Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-PT

Ngày 19/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Trần Thị Hà;

Các Thẩm phán: ông Đặng Văn Quyết và bà Phạm Thị Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Yến Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLPT-HS ngày 01/3/2024 đối với bị cáo Hoàng Ngọc H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Hoàng Ngọc HNguyễn Văn H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Hoàng Ngọc H, sinh năm 1990; giới tính: nam.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hoàng Xuân T và bà Lưu Thị H2; vợ là Nguyễn Thị H3, sinh năm 1992 và có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 14/4/2018, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”, phạt 2.500.000đồng, đã chấp hành ngày 15/5/2018.

- Ngày 08/01/2020, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”, phạt 2.500.000đồng.

- Ngày 08/6/2020, UBND thị trấn P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”, phạt 2.000.000 đồng, đã chấp hành ngày 25/6/2020.

- Ngày 13/4/2023, Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Công an tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức.

Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1995; giới tính: nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị K; vợ là Vũ Vân A, sinh năm 1995 và có 01 con, sinh năm 2018; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2023 đến nay, (có mặt tại phiên tòa).

*Người tham gia tố tụng khác: Vụ án còn có 04 bị cáo, 02 bị hại, 14 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, 05 người làm chứng không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2022, Nguyễn Thế Đ mời Đào Mạnh H4, sinh năm 1990 ở tổ E, phường C, quận L, thành phố Hà Nội; Lương Đình T1, sinh năm 1977 ở số C, tổ C, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn S, Hà Hữu N, sinh năm 1992 ở thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng và Trần Thanh T2, sinh năm 1998 ở thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang lên quán K4 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang hát. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho Lê Tuấn G (nhân viên quản lý quán) bảo G bố trí cho phòng hát 401 và 05 bình “khí cười” để sử dụng. Đ tiếp tục gọi điện thoại rủ Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1995 ở thôn Y, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến quán K4 chơi. Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh C (là người quản lý đưa đón nhân viên nữ cùng Đ) và bảo C cho nhân viên nữ sang quán K4 để phục vụ. Khi đến quán K4 Đ bảo H4, T1, S, N, T2 vào phòng 401 của quán, còn Đ ra hỏi G về số bình “khí cười” mà Đ đã đặt, G chỉ Đ chỗ lấy và đưa cho Đ 01 túi nilon đựng 15 vỏ bóng bay. Sau đó, Đ vào lấy 01 bình “khí cười” lên phòng 401 rồi bơm khí cười vào các vỏ bóng bay để cả nhóm sử dụng. Cả nhóm vừa hát vừa sử dụng “bóng cười” được khoảng 30 phút thì hết bình “khí cười” nên Đ đã bảo nhân viên của quán đem 04 bình “khí cười” lên phòng 401 cho Đ. Khi cả nhóm đang sử dụng “bóng cười” thì Đ đã gọi S ra ngoài rồi bảo S chuyển khoản cho Đ số tiền là 3.500.000 đồng. S đồng ý và nhờ người chuyển khoản cho Đ số tiền kể trên vào tài khoản Ngân hàng M2 số 0927866310 của Đ. Sau đó, Đ đã gọi điện cho Nguyễn Thanh C bảo C cho nhân viên sang làm và nhờ C mua hộ 3.500.000 đồng tiền ma túy. C đi ra khu đô thị D của thị trấn P, huyện Y mua 04 viên ma túy tổng hợp dạng ma túy “Kẹo” và 03 chỉ ma túy tổng hợp dạng ma túy “Ke” của người đàn ông tự xưng là M (không rõ tuổi, địa chỉ) với giá 4.800.000 đồng. C hính cầm số ma túy trên về nhà trọ được khoảng 20 phút thì Đ đi một mình đến, tại đây Đ đã chuyển khoản cho C số tiền 3.500.000 đồng tiền nhờ C mua ma túy. Sau đó, Đ bảo C đưa ma túy “Kẹo” cho Đ để sử dụng trước, C đồng ý và đưa 04 viên ma túy tổng hợp (dạng ma túy “Kẹo”) được đựng trong 01 túi nilon cho Đ. Đ gọi Vàng Thị V, sinh năm 2004 ở thôn S, xã L, huyện M, tỉnh Lào Cai dậy và chở V đến quán K4. Tại phòng 401 của quán, Đ đã đổ số ma túy “Kẹo” kể trên vào 02 cốc thủy tinh (mỗi cốc 02 viên) và dùng đầu chai bia dầm nát ma túy thành dạng bột, đổ nước C1 vào rồi mời những người có mặt trong phòng uống nước Coca pha chất ma túy. Lúc sau, Nguyễn Xuân T3 đến nên Đ đã gọi điện thoại bảo C đến. Đến gần 02 giờ 30 phút ngày 21/10/2022 thì C mang theo số ma túy “Ke” đã mua được vào phòng 401 và bảo Đ lấy đĩa với thẻ để sử dụng ma túy. Đ đồng ý rồi đi xuống tầng một của quán lấy 01 đĩa sứ màu trắng và thẻ cứng lên phòng 401 đưa cho C. Sau đó, C dùng bật lửa hơ nóng đáy đĩa sứ và lấy túi nilon dạng túi nhíp có rãnh khóa đựng ma túy “Ke” kể trên rồi đổ một lượng ma túy lên đĩa sứ. C hính dùng thẻ cứng dầm, miết ma túy “Ke” trên mặt đĩa sứ (gọi là “xào K1”) và chia ma túy thành 04 đường nhỏ (gọi là “kẻ K1”), C cầm đĩa sứ đựng ma túy và 01 ống hút được tạo thành bằng 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng hai đầu có gắn 02 đầu lọc thuốc lá đã được bỏ lõi (do C làm) đi mời từng người trong phòng sử dụng ma túy. Lúc này trong phòng 401 có Đ, S, N, H4, T1, T2, T3, C và các nhân viên nữ gồm: Lò Thị Q, sinh năm 2002 ở bản C, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Vi Thị H5, sinh năm 2003 ở khu E, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Thị L, sinh năm 2003 ở thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Hà Thị P1, sinh năm 1994 ở bản T, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; Lò Thị Ú, sinh năm 2002 ở bản P, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; Phàn Thị Đ1, sinh năm 2002 ở thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai và Vàng Thị V. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày thì C đưa lại túi nilon đựng lượng ma túy “Ke” còn lại cho Đ cầm rồi C ra ngoài. Sau đó Đ đã dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ và đổ một phần ma túy trong túi nilon mà C đã đưa cho lúc trước, rồi Đ dùng thẻ cứng “xào K1”, “kẻ K1” và mời từng người trong phòng sử dụng. Khi sử dụng hết số ma túy “Ke” trên đĩa, do trong phòng bật điều hòa nên Đ đã mang đĩa sứ ra nhà vệ sinh ngoài phòng hát và dùng bật lửa hơ nóng đáy đĩa sứ rồi đổ hết lượng ma túy “Ke” còn lại trong túi nilon ra. Sau đó, Đ cầm đĩa đựng ma túy này đi ra ngoài thì gặp C từ thang máy đi vào phòng 401. Khi vào trong phòng thì Đ đã đưa lại đĩa sứ đựng ma túy cùng thẻ cứng cho C rồi C dùng thẻ cứng trên “xào K1”, “kẻ K1” rồi lần lượt mời từng người trong phòng sử dụng. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày thì Lê Tuấn G vào phòng 401, khi đó C tiếp tục “kẻ K1” và mời Giao thì G hít 01 đường K.

Khoảng 05 giờ cùng ngày thì Đ cùng V đi ngủ ở nhà nghỉ rồi lần lượt C, GT3 cũng rời khỏi phòng hát đi về. Đến khoảng hơn 06 giờ 30 phút cùng ngày thì nhóm nhân viên nữ cùng S, N, H4, T1, T2 đi xuống tầng một của quán. Sau khi Chu Văn T4, sinh năm 2004 ở thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Trần Thành L1, sinh năm 2004 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là nhân viên chạy bàn của quán) lên dọn dẹp, kiểm đồ của phòng 401 thì Lê Tuấn G đã kiểm tra trên “App tính tiền” của quán rồi tính Hóa đơn thanh toán các chi phí dịch vụ của phòng 401 và tiền nhân viên phục vụ mà nhóm của Đ, S đã sử dụng từ tối ngày 20/10/2022 đến sáng ngày 21/10/2022 với tổng số tiền là: 35.653.000 đồng. Sau đó G đưa Hóa đơn kể trên cho S rồi yêu cầu nhóm của S thanh toán, thì SN nói với G về việc Đ là người mời lên chơi nên Đ là người có trách nhiệm thanh toán tiền. Còn nhóm của S không ai có tiền. Một lúc sau thì T2 đi về. Đến khoảng hơn 08 giờ ngày 21/10/2022 thì Nguyễn Văn H1Vũ Vân A đến quán, G đã nói với H1 về việc nhóm S được Đ mời đến hát nhưng không có tiền thanh toán. Học đã gọi điện thoại cho Đ nhưng không liên lạc được. Sau đó, H1 đã nhắn tin qua M1 với Hoàng Ngọc H với nội dung nhóm của S là những người mới ra tù được Đ mời đến hát, không có tiền thanh toán và không tìm được Đ, rồi bảo H ra quán để tìm Đ về nhưng H nói là đang bán hàng cho vợ không ra được. Sau đó, H1 cùng nhóm S, N, T1, H4 ngồi đợi nhưng không thấy Đ quay lại nên H1 tiếp tục hỏi nhóm S về việc thanh toán tiền thì nhóm của S vẫn nói là không có tiền để thanh toán. Thấy vậy H1 đã bảo nhóm S “xoay” tiền để thanh toán cho quán của H1. Lúc này S đã đề nghị H1 cho nhóm của S viết giấy nhận nợ và cho nhóm S về “xoay” tiền để trả nhưng H1 không đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Hoàng Ngọc H đi một mình đến quán K4 và nói chuyện với S thì S đã kể lại việc Đ mời mọi người lên chơi nhưng Đ bỏ về trước, Đ là người có trách nhiệm thanh toán tiền. H yêu cầu nhóm S phải thanh toán tiền hát và nhân viên phục vụ thì S bảo H cho nhóm của S viết giấy nhận nợ nhưng H không đồng ý. H bảo nhóm S tiếp tục “xoay” tiền để trả rồi H đi về. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H quay lại quán K4 bảo S đọc địa chỉ nhà và tên bố mẹ S thì S cung cấp cho H biết. Sau đó, H nhờ Hoàng Văn H6, sinh năm 1993 ở thôn A, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đến nhà S theo địa chỉ mà S đã cung cấp. Khoảng 10 phút sau thì H6 gọi điện thoại cho H (gọi qua F) rồi H nói chuyện với bà Ngô Thị H7, sinh năm 1976 ở thôn Đ, xã T, thành phố B (mẹ của S), bà H7 hẹn H đến chiều tối sẽ mang tiền lên trả. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Hoàng Ngọc H quay lại quán K4 rồi bảo T1H6 đi về. Sau đó H bấm số điện thoại gọi bà H7 và đưa điện thoại để S nói chuyện thì ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1975 ở thôn Đ, xã T, thành phố B (bố S) nghe máy. Khi đó S nói với ông T5 là: “Bố trả tiền cho con, con đi chơi, con bị lừa đang nợ tiền trên này” thì ông T5 nói là: “Bố không có tiền”. H lấy lại điện thoại và có nhiều lời nói chửi, đe dọa S, đồng thời dùng tay đấm 03 phát vào vùng ngực, sườn trái của S. Sau đó H lại bấm điện thoại và đưa cho S nói chuyện với ông T5 để ông T5 trả tiền cho S nhưng ông T5 nói không có tiền thì H tiếp tục dùng tay đấm 02 phát vào vùng ngực, sườn trái của S và đe dọa: “Bố mày không lo chứ gì”. Lúc này Vân A nói “Đéo có tiền đánh chết mẹ nó đi rồi báo Công an. Đéo trả đéo xong đâu, đéo có câu chuyện là đéo trả tiền mà bảo chị đi tù là xong được đâu”. Sau đó HVân A tiếp tục có lời nói đe dọa ép S gọi điện về cho gia đình yêu cầu mang tiền lên trả. Sau khi gọi điện cho gia đình không được, S lấy điện thoại của N gọi cho anh Đặng Văn T6, sinh năm 1993 ở đường N, tổ A, phường T, thành phố B nói là: “Anh gọi điện thoại cho bố mẹ em, bảo bố mẹ em trả tiền giúp em” thì T6 nói với S là: “Đưa điện thoại cho chủ quán”. S đưa điện thoại cho H1 nói chuyện thì T6 bảo H1 là: “Cho anh em nó cơm cháo, tắm rửa, nghỉ ngơi. Đến trưa mai thì bố nó khác gửi tiền lên. Còn tiền nhân viên thì không trả”. Nói chuyện với T6 xong thì H1 nói với S là: “Bố mày bảo mai trả tiền cho mày. Bây giờ đi ăn xong rồi tắm rửa đi ngủ!”. Lúc này, H nói với N “Bố mẹ S trả mười năm triệu rồi, còn bạn xoay cho tôi mười năm triệu tôi cho bạn về”. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày 22/10/2022, ông T5 nhờ anh Nguyễn Xuân H8, sinh năm 1997 ở thôn D, xã T, huyện L chuyển tiền cho H1 thì anh H8 đồng ý và sử dụng tài khoản Ngân hàng T7 số 19038343399012 của anh H8 chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V1 số 0731000842613 mang tên Nguyễn Văn H1. Sau đó H1 bảo S là: “Bố mày chuyển tiền cho mày rồi, bây giờ anh cho mày về” S không đồng ý về và nói với H1 là: “Em đi cùng N, bây giờ N chưa về thì em cũng chưa về”. Lúc này, H nói với S là: “Em chuyển tiền rồi thì cho em về, còn N chưa chuyển tiền thì N ở lại” và bảo S là: “Bây giờ N không xoay tiền đâu được thì mày về xoay mười triệu mang lên để cho N về”. S hiểu ý H bảo S về tìm cách “xoay” thêm số tiền 10.000.000 đồng mang lên đưa cho H để N được về. S bảo N là: “Anh ngồi ở đây, em về xoay tiền xong em đón anh về” và bảo N đưa điện thoại cho S để liên lạc thì N đồng ý. Sau đó S đi xe taxi về khu vực thành phố B, còn N ở lại. Đến khoảng 20 giờ ngày 22/10/2022, sau khi hỏi vay được số tiền 3.000.000 đồng của một người tên Q1 (là bạn xã hội của S, nhà ở khu vực tỉnh Lạng Sơn) thì S đã gọi điện thoại cho H nói về việc chỉ vay được số tiền 3.000.000 đồng, H bảo S là: “Em cố xoay thêm để được sáu, bẩy triệu để trả anh”. Sau đó, S nói với H là: “Em chỉ xoay được ba triệu thôi, bây giờ không xoay được nữa!” thì H đồng ý và bảo S mang tiền lên đưa cho H để đón N về. Sau đó, H chở N đến quán bán loa đài của gia đình anh Hoàng Đăng S1 (ở cùng phố với H) để chờ S đến. Còn Nguyễn Văn S khi đó do sợ bị Hoàng Ngọc H đánh tiếp và không cho về nên S đã đưa số tiền 3.000.000 đồng vay được kể trên cho anh Thân Văn Q2, sinh năm 1985 ở đường G, phường D, thành phố B (lái xe taxi) và nhờ anh Q2 mang lên đưa cho H rồi S nhắn tin cho H số điện thoại của anh Q2 để liên lạc. Sau đó Hoàng Ngọc H đã liên lạc với anh Q2 và chỉ đường cho anh Q2 đến quán loa đài nhà anh Hoàng Đăng S1. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì anh Q2 đến quán nhà anh S1 và đưa cho H số tiền 3.000.000 đồng rồi anh Q2 chở N về khu vực thành phố B. Ngày 23/10/2022, S đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trình báo vụ việc như trên.

Ngày 24/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Ngọc H, Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thanh C và thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max vỏ màu hồng của C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng của Đ.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét tại quán K4 thu giữ: 03 túi nilon, dạng túi nhíp, trong đó 02 túi có rãnh khóa màu đỏ, 01 túi có rãnh khóa màu xanh; 20 quả bóng bay màu trắng sữa; 03 lọ gốm sứ màu đen; 01 bình thủy tinh; 02 ống nhựa dạng xoắn (01 màu đỏ, 01 màu đen); 01 thanh Inox có ba chạc; 01 đĩa tròn Inox màu trắng đựng trong hộp catton: 01 bóng bay màu đen; 02 mảnh vỡ của vỏ bóng bay màu đen; 01 bình khí vỏ màu vàng; 01 bình khí vỏ màu xanh; 01 quyển sổ bìa màu đen có chữ “HANDBOOK – OPEN MC-675”, bên trong có ghi chữ và số; 01 ví da màu đen, bên trong có: 01 căn cước công dân; 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe cùng mang tên Lê Tuấn G; 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngô Thị Kim O; 01 chứng minh nhân dân phô tô mang tên Nguyễn Xuân P2; 01 đăng ký mô tô xe máy số 032548 và 01 thẻ ATM V2 số 9704150113290962; 03 thẻ cứng màu đen Huben Security Card; 01 thẻ cứng màu vàng Yody; 79 quả bóng bay màu trắng sữa; 10 túi nilon dạng túi có khóa nhíp; 01 đầu camera nhãn hiệu @hua Moded DHI-NVR4116HS-4KS2; 01 hóa đơn bán hàng đề ngày 21/10/2022 mặt sau có ghi chữ và số; 01 quyển sổ bìa màu đen bìa có ghi nội dung New Century MC-062 bên trong có ghi chữ và số; 01 giấy vay tiền đề ngày 07/9/2022; 01 Giấy vay tiền đề ngày 12/10/2020. Khám xét tại nhà Hoàng Ngọc H thuê ở tổ dân phố P, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 98C1-108.78; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 98H1-237.42; 01 cân tiểu li điện tử màu đen; 02 thẻ cứng nhãn hiệu YODY màu vàng; 01 túi nhựa màu trắng. Khám xét tại nhà Hoàng Ngọc H ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng. Khám xét tại nhà Nguyễn Văn H1 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thu giữ: Số tiền 30.000.000 đồng; 01 quyển vở ôly nhãn hiệu H9 Tiến bên trong có ghi chữ và số; 01 quyển sổ bìa màu đen bìa có nội dung Remark MC-092 bên trong có ghi chữ và số; 01 quyển sổ bìa màu đen bên trong có ghi chữ và số.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S giao nộp 01 hóa đơn bán hàng gồm 03 liên ghi tên quán “H2 KARAOKE”, có chữ ký của Nguyễn Văn S. Hà Hữu N giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu tím.

Ngày 25/10/2022, Lê Tuấn G đã đến Phòng C2 Công an tỉnh B để đầu thú về hành vi trên.

Tại bản Kết luận giám định số 1974/KL-KTHS, ngày 31/10/2022 của Phòng C2 Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “02 thẻ cứng nhãn hiệu YODY, 01 túi ni lon màu trắng” đã được niêm phong gửi giám định: Trên 02 (hai) thẻ cứng màu vàng, nhãn hiệu YODY và trong 01 (một) túi ni lon màu trắng đều có chất ma túy Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “01 Bóng bay màu đen thu tại phòng 302”, đã được niêm phong gửi giám định: Trên 01 (một) bóng bay màu đen không tìm thấy chất ma túy. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “Phòng 201 - 02 vỏ bóng bay màu đen” đã được niêm phong gửi giám định: Trên 02 (hai) mảnh vỡ của vỏ bóng bay màu đen không tìm thấy chất ma túy. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “Thùng rác nhà vệ sinh Tầng 4 - 03 (ba) túi ni lông” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 03 (ba) túi ni lon màu trắng dạng túi nhíp, trong đó có 02 túi có rãnh khóa màu đỏ, 01 túi có rãnh khóa màu xanh đều có chất ma túy Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “10 (mười) túi ni lon thu giữ tại phòng bếp” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 10 (mười) túi ni lon dạng túi có khóa nhíp đều có chất ma túy Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “79 bóng bay thu tại phòng ngủ tầng 1” đã được niêm phong gửi giám định: 79 (bảy mươi chín) quả bóng bay màu trắng sữa đều không tìm thấy chất ma túy. Trong 01 (một) hộp cát tông, đã được niêm phong gửi giám định: Trên các mẫu vật 03 (ba) lọ gốm sứ màu đen; 01 (một) bình thủy tinh; 02 (hai) ống nhựa dạng xoắn gồm 01 ống màu đỏ, 01 ống màu đen; 01 (một) thanh inox có ba chạc; 01 (một) đĩa tròn bằng inox màu trắng, 20 (hai mươi) quả bóng bay màu trắng sữa đều không tìm thấy chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 8583 ngày 21/12/2022 của V3 - Bộ C3 kết luận: Mẫu khí chứa trong 01 (một) bình kim loại hình trụ màu vàng và 01 (một) bình kim loại hình trụ màu xanh gửi giám định đều là khí dinitrogen monoxide (nitrous oxide, N2O) hay còn gọi là "khí cười".

Tại bản Kết Luận giám định số 452 ngày 17/5/2023 của V3 - Bộ C3 kết luận: Tìm thấy 873 tệp video trong khoảng thời gian từ 20/10/2022 đến 23/10/2022 (theo thời gian hiển thị trên hình ảnh) lưu trữ trong ổ cứng Toshiba 02TB, có số S/N: 41T1S0JUS89H của đầu ghi hình camera mẫu cần giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 5255 ngày 23/8/2023 của V3 - Bộ C3 kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file mẫu cần giám định. Tiếng nói của người phụ nữ trong các file mẫu cần giám định (ký hiệu “Vân Anh” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói của Vũ Vân A trong mẫu so sánh là của cùng một người. Không giám định được tiếng nói của Hoàng Ngọc H, do mẫu so sánh có chất lượng kém. Đã chuyển nội dung hội thoại trong file mẫu cần giám định thành văn bản. Đã trích xuất 02 file mẫu cần giám định.

Ngày 23/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành lấy mẫu (nước tiểu) để xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn S, Hà Hữu N, Trần Thanh T2, Lương Đình T1, Vi Thị H5, Hoàng Thị L, Vàng Thị V: Kết quả các đối tượng đều “dương tính” với chất ma túy.

Ngày 25/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành lấy mẫu (nước tiểu) để xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Xuân T3, Lò Thị Ú, Lò Thị Q, Phàn Thị Đ1, Hà Thị P1 bằng que test ma túy đều cho kết quả “âm tính” với chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 585/597/769-781/22/ĐC ngày 27/10/2022 của V4 kết luận: Trong mẫu máu của Lò Thị Ú, Vi Thị H5, Hoàng Thị L, Vàng Thị V, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh C gửi giám định ngày 25/10/2022 có tìm thấy K2. Trong mẫu máu của Nguyễn Thế Đ, Hoàng Ngọc H, Lò Thị Q, Phàn Thị Đ1, Hà Thị P1, Hà Hữu NLê Tuấn G gửi giám định ngày 25/10/2022 không tìm thấy các chất ma túy nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành Sao kê tài khoản ngân hàng T8 66811029999 của Nguyễn Thanh C, tài khoản ngân hàng M2 số 0927866310 mang tên Nguyễn Thế Đ trong đó có mã giao dịch Đ chuyển khoản số tiền 3.500.000 đồng để trả tiền C mua hộ ma túy kể trên. Sao kê Tài khoản ngân hàng T7 số 19038343399012 của anh Nguyễn Xuân H8, tài khoản ngân hàng V1 số 0731000842613 của Nguyễn Văn H1, trong đó có mã giao dịch anh H8 chuyển khoản cho H1 số tiền 15.000.000 đồng do ông Nguyễn Văn T5 nhờ chuyển khoản để trả tiền hộ S.

Quá trình điều tra, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bị can Nguyễn Văn H1, bị can Vũ Vân A, anh Hà Hữu N, anh Chu Văn T4, anh Trần Thành L1, anh Nguyễn Bá H10, sinh năm 1995 ở thôn Đ, xã T, huyện T là những người được chứng kiến trực tiếp sự việc tại quầy lễ tân quán K5 KTV và đều xác định Hoàng Ngọc H đã có hành vi đánh, ép S trả tiền.

Tiến hành cho các bị can Đ, C, H1Vân A xem lại 02 đoạn video có tên “CH1_2022-10-21_172912_2022-10-21_180000_ID0075.DAV” và “CH1_2022-10-21_180000_2022-10-21_190000_ID00716.DAV” thì các bị can đều khẳng định người đàn ông mặc quần đùi, áo dài tay có hành vi chửi, đánh và ép Nguyễn Văn S là bị can Hoàng Ngọc H. Ngoài ra bị can H1Vân A xác định Vũ Vân A có lời nói đe dọa và ép S trả tiền.

Đối với 04 viên ma túy tổng hợp dạng ma túy “Kẹo” và 03 chỉ ma túy tổng hợp dạng ma túy “Ke”, C khai mua của một người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên là M tại khu đô thị D thuộc Tổ dân phố C thị trấn P, huyện Y. Do C không biết tuổi, nhân thân và địa chỉ của người này ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh xử lý.

Nguyễn Văn H1 là chủ quán K4 tối ngày 20/10/2022, H1 không có mặt ở quán, không biết Lê Tuấn G cho các các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 401. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý H1 với vai trò đồng phạm về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Văn S, Hà Hữu N, Lương Đình T1, Trần Thanh T2, Nguyễn Xuân T3, Lê Tuấn G, Hoàng Thị L, Vàng Thị V và đối tượng Đào Mạnh H4 (đã chết). Các đối tượng không có hành vi góp tiền, không chuẩn bị ma túy và các dụng cụ sử dụng ma túy, không có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thế ĐNguyễn Thanh C nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý các đối tượng này về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với Lê Tuấn G không biết việc các bị can H, H1, Vân A có hành vi cướp tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với việc các anh S, N ở lại quán là tự nguyện nên Cơ quan điều tra không xem xét: H, H1, Vân A về hành vi “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thanh C, Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Văn S, Hà Hữu N, Lương Đình T1, Trần Thanh T2, Nguyễn Xuân T3, Lê Tuấn G, Hoàng Thị LVàng Thị V. Ngày 18/5/2023, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng này về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Đối với Lò Thị Ú, Vi Thị H5 kết quả giám định mẫu máu có tìm thấy K2 nhưng lời khai ban đầu cả hai đều khẳng định không sử dụng ma túy tổng hợp tại phòng 401. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y chưa tiếp tục làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tách phần tài liệu có liên quan để xem xét, xử lý hành chính sau.

Đối với Lò Thị Q, Phàn Thị Đ1, Hà Thị P1 không tham gia sử dụng ma túy tổng hợp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét, xử lý.

Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 98C1-108.87 là của anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1996 ở bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 98H1-237.42 là của ông Nguyễn Bá K3 sinh năm 1965 ở thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 14/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại 02 chiếc xe mô tô kể trên cho anh D và ông K3.

Đối với số vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ (chưa được xử lý) chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế để bảo quản, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn P sinh năm 1969, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là bố Nguyễn Văn H1) đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 15.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho Nguyễn Văn H1. Bị cáo Vũ Vân A đã bồi thường cho Nguyễn Văn S số tiền 15.000.000 đồng. Đến nay Nguyễn Văn S yêu cầu Hoàng Ngọc H trả lại số tiền 3.000.000 đồng và yêu cầu H bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho anh S với số tiền là 10.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn T5 không có yêu cầu đề nghị gì.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-YT ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo: Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thanh C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Lê Tuấn G về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; truy tố Hoàng Ngọc H, Nguyễn Văn H1, Vũ Vân A về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HSST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Ngọc H 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2022.

- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 14/5/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 04 bị cáo, tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo theo quy định pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 26/01/2024 bị cáo Nguyễn Văn H1 kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Bị cáo nhận thấy mức án mà Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 30/01/2024 bị cáo Hoàng Ngọc H kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Bị cáo nhận thấy mức án mà Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày:

Bị cáo Hoàng Ngọc H trình bày: về tội danh và điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, án sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn H1 trình bày: về tội danh và điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, án sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX:

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hoàng Ngọc H, Nguyễn Văn H1. Sửa mức hình phạt đối với bị cáo H, bị cáo H1 tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc H 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù về tội “cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

- Về án phí: do kháng cáo của bị cáo Hoàng Ngọc H, Nguyễn Văn H1 được chấp nhận. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo H nói lời sau cùng: bị cáo thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo H1 nói lời sau cùng: bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Ngọc H và bị cáo Nguyễn Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Đêm ngày 20/10/2022, Nguyễn Thế ĐNguyễn Thanh C có hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng cho Nguyễn Văn S, Hà Hữu N, Lương Đình T1, Trần Thanh T2, Nguyễn Xuân T3, Đào Mạnh H4, Lê Tuấn G, Hoàng Thị LVàng Thị V cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý tại Phòng 401 quán hát Karaoke H2-KTV ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Lê Tuấn G là người có trách nhiệm quản lý quán hát Karaoke H2-KTV, đã cho các đối tượng trên sử dụng ma túy tại phòng 401 của quán. Đến sáng ngày 21/10/2022, tổng số tiền mà nhóm của Đ cùng với anh Nguyễn Văn S, Hà Hữu N và một số người khác sử dụng dịch vụ tại quán là 35.635.000đ nhưng không có ai thanh toán, Hoàng Ngọc H (là người cung cấp dịch vụ nhân viên nữ) đã sử dụng vũ lực, Nguyễn Văn H1Vũ Vân A (là chủ quán hát) đã có hành vi chửi, đe dọa và ép Nguyễn Văn S, Hà Hữu N phải trả toàn bộ số tiền dịch vụ nêu trên. Các bị cáo đã chiếm đoạt được số tiền 18.000.000đ của anh Nguyễn Văn S (H1 cùng Vân A đã nhận số tiền 15.000.000 đồng do gia đình anh S chuyển khoản, H nhận số tiền 3.000.000 đồng tiền mặt).

Quá trình thanh toán với những người sử dụng dịch vụ tại quán của mình, Nguyễn Văn H1, Vũ Vân A đã gọi Hoàng Ngọc H đến và các bị cáo thực hiện các hành vi: không cho về nếu không trả tiền; chửi bới, đe doạ; bị cáo H dùng tay đấm. Do không thể kháng cự được nên anh S đã phải trả cho các bị cáo số tiền 18.000.000đ. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Hoàng Ngọc H, Nguyễn Văn H1Vũ Vân A có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Hoàng Ngọc H và bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:

[3.1]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và vị trí, vai trò của các bị cáo: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm về quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, bị cáo H giữ vai trò chính bởi lẽ, bị cáo H là người có hành vi đe doạ, ép buộc và trực tiếp dùng vũ lực đối với bị hại; bị cáo H1 là người gọi bị cáo H đến mục đích để đòi tiền, tiếp nhận ý chí của bị cáo H khi bị cáo H dùng vũ lực với bị hại để bị hại trả tiền, cung cấp tài khoản và nhận số tiền do gia đình bị hại chuyển đến bị cáo H1 có vai trò thứ hai, nhưng cũng rất tích cực. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, đối với các bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh để đảm bảo tính giáo dục đối với các bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.

[3.2] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Về nhân thân: bị cáo Hoàng Ngọc H chưa có tiền án tiền sự nhưng đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Xâm hại sức khỏe của người khác", hành vi “cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo Nguyễn Văn H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo H1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Ngọc H có ông ngoại được tặng thưởng Huân Huy chương kháng chiến, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Bị cáo H được nhận 3.000.000đồng từ số tiền chiếm đoạt, bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 3.000.000đồng để khắc phục hậu quả, nhưng cấp sơ thẩm chỉ áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa chính xác, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về nội dung này.

Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc H 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3.3]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

- Bị cáo Hoàng Ngọc H: tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo H cung cấp đơn xin xác nhận của ông Hoàng Xuân T, bố bị cáo về việc gia đình bị cáo đã có nhiều công lao trong việc phát triển nông thôn mới, gia đình có công trong việc phòng chống covid cung cấp rau ngót cho Hội chữ thập đỏ huyện Y (có giấy xác nhận của Hội chữ thập đỏ), giấy công nhận gia đình văn hóa. Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm cần xem xét cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Văn H1: tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp Huân chương kháng chiến hạng nhất và huy hiệu 50 năm tuổi đảng của ông Nguyễn Văn Q3 là ông nội bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm cần xem xét cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H1 đã nộp biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm, việc bị cáo nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Ngọc H và bị cáo Nguyễn Văn H1, sửa bản án sơ thẩm số 04/2024/HSST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp.

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Ngọc H 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/10/2022.

- Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H1 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 14/5/2023.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Hoàng Ngọc H, Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang;

- TAND huyện Yên Thế;

- VKSND huyện Yên Thế;

- CCTHADS huyện Yên Thế;

- Công an huyện Yên Thế;

- Sở Tư pháp tỉnh BG;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đặng Văn Quyết Phạm Thị Minh Hiền

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 56/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo có kháng cáo: 1. Hoàng Ngọc H, sinh năm 1990; giới tính: nam. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hoàng Xuân T và bà Lưu Thị H2; vợ là Nguyễn Thị H3, sinh năm 1992 và có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; - Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Hoàng Ngọc H 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/10/2022.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger