TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HS-ST
Ngày: 19/4/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Thị Luân;
Bà Trần Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lưu Văn H, sinh năm 1976 tại Thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn D, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn N (đã chết), con bà Nguyễn Thị V (đã chết); vợ Trần Thị Thu H1 (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 1995.
Tiền án: Tại Bản án số 19/HSPT ngày 27/3/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 07 năm tù về tội trộm cắp tài sản (bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự);
Nhân thân: Tại Bản án số 96/HSST ngày 21/9/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản và trốn khỏi nơi giam giữ; tại Bản án số 53/HSST ngày 30/6/2000 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
Tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt tại phiên tòa”.
Bị hại: Ông Nguyễn Tuấn B, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ F, tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt tại phiên tòa”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H2, sinh năm 1950; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt tại phiên tòa”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 29/8/2023, Lưu Văn H một mình điều khiển xe ba gác đi chở cây hom dâu tại khu vực xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khi đi ngang qua nhà của ông Nguyễn Tuấn B, sinh năm: 1968, ngụ tại: Thôn B, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì H nhìn thấy 01 căn nhà kho của ông B nằm sát bên cạnh nhà chính có các tấm tôn đang lợp trên mái của nhà kho. Thấy không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là các tấm tôn đang lợp trên mái của nhà kho để đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, H cầm theo 01 thanh sắt hình chữ T một đầu có gắn chụp tháo ốc hình tròn loại lục giác và điều khiển xe ba gác màu xanh, do H tự chế gắn biển số 61L2-0627 đi từ nhà thuê của H ở thôn D, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đến nhà kho của ông B để tháo dỡ các tấm tôn trên mái để đem đi bán. Khi đến nơi, H để xe ba gác ở đường đất cách cổng nhà ông B khoảng 20m, rồi một mình đi lên nhà kho và sử dụng thanh sắt hình chữ T tháo các đinh ốc vít gắn mái tôn và dỡ tôn từ trên mái xuống. Hiển tháo được 04 tấm tôn dài 5m, rộng 1m và 08 tấm tôn dài 4m, rộng 1m, loại tôn Hoa Sen. Sau đó H bê lần lượt 12 tấm tôn này ra để lên xe ba gác của mình rồi chở đi tìm nơi để bán. H chở 12 tấm tôn đến tiệm thu mua phế liệu của bà Lê Thị H2, sinh năm: 1950, nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L và bán cho bà H2 với giá 1.700.000 đồng. Sau đó H sử dụng hết số tiền đã bán được vào việc mua đồ ăn, thuốc uống.
Đến ngày 20/9/2023, Công an xã M mời H đến làm việc, tại Cơ quan Công an H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản tại nhà của ông Nguyễn Tuấn B vào ngày 29/8/2023 như trên.
Vật chứng thu giữ: 04 tấm tôn có chiều dài 5m, rộng 1m, các tấm tôn có màu xanh mặt trên, nhãn hiệu tôn Hoa Sen 0,40mm; 08 tấm tôn có chiều dài 4m, rộng 1m, các tấm tôn có màu xanh mặt trên, nhãn hiệu tôn Hoa Sen 0,40mm; 01 thanh sắt hình chữ T, một đầu có gắn chụp tháo ốc hình tròn loại lục giác; 01 xe ba gác màu xanh tự chế không rõ số khung, số máy, biển kiểm soát 61L2-0627.
Ngày 02/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có bản kết luận số 127/KLĐG kết luận: 04 tấm tôn có chiều dài 5m, rộng 1m; 08 tấm tôn có chiều dài 4m, rộng 1m, các tấm tôn có màu xanh mặt trên, nhãn hiệu tôn Hoa Sen 0,40mm có tổng giá trị là 3.744.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Ngày 04/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả: 04 tấm tôn có chiều dài 5m, rộng 1m, các tấm tôn có màu xanh mặt trên, nhãn hiệu tôn Hoa Sen 0,40mm; 08 tấm tôn có chiều dài 4m, rộng 1m, các tấm tôn có màu xanh mặt trên, nhãn hiệu tôn Hoa Sen 0,40mm cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Tuấn B. Ông B không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với bà Lê Thị H2 đã mua tôn của Lưu Văn H. Qúa trình điều tra xác định khi mua 12 tấm tôn thì bà H2 không biết đó là tài sản do H trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị cáo Lưu Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lưu Văn H không khiếu nại hay thắc mắc gì về bản Cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn H từ 02 đến 03 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Tuấn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh sắt hình chữ T, một đầu có gắn chụp tháo ốc hình tròn loại lục giác là công cụ dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe ba gác màu xanh tự chế không rõ số khung, số máy, biển kiểm soát 61L2-0627 của bị cáo, bị cáo đã dùng làm phương tiện để phạm tội nên đề nghị tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa bị hại ông Nguyễn Tuấn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của ông B, bà H3 không ảnh hưởng đến việc xét xử; đồng thời, không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
[2.2] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo khai nhận:
Vào ngày 29/8/2023, bị cáo điều khiển xe ba gác đi chở thuê cây hom dâu tại khu vực xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khi đi ngang qua nhà của một người dân ở thôn B, xã M thì nhìn thấy 01 căn nhà kho có các tấm tôn đang lợp trên mái nên đã nảy sinh ý định trộm
cắp đem đi bán để lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo cầm theo 01 thanh sắt hình chữ T và điều khiển xe ba gác đi từ thôn D, xã G vào thôn B, xã M, huyện L tháo dỡ các tấm tôn trên mái rồi đưa lên xe ba gác; đến sáng ngày hôm sau đem đi bán cho tiệm thu mua phế liệu được số tiền 1.700.000 đồng sử dụng vào việc mua đồ ăn và thuốc uống.
[2.1] Tại bản kết luận số 127/KLĐG ngày 02/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 04 tấm tôn có chiều dài 5m, rộng 1m; 08 tấm tôn có chiều dài 4m, rộng 1m, các tấm tôn có màu xanh mặt trên, nhãn hiệu tôn Hoa Sen 0,40mm có tổng giá trị là 3.744.000 đồng, bị cáo thừa nhận toàn bộ số tôn trên là do bị cáo trộm cắp của ông B.
[2.2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, bản Cáo trạng truy tố và những tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.
[2.3] Xét nhân thân bị cáo là người xấu đã nhiều lần bị kết án, cụ thể: Năm 1994, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; năm 1996, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản và trốn khỏi nơi giam giữ; năm 2000, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 tù về tội trộm cắp tài sản. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2006/HSST ngày 19/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng đã xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội trộm cắp tài sản và tại bản án này đã xác định hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo; tại Bản án hình sự phúc thẩm số 19/HSPT ngày 27/3/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã y án đối với bản án số 05/2006/HSST ngày 19/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2012. Tuy nhiên, bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự theo bản án số 05/2006/HSST ngày 19/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng. Nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố bị cáo với tình tiết định khung theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, vì mục đích vụ lợi. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cách giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây nghi ngờ mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo đã gây ra.
[2.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tắng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn, hối cải. Tài sản bị cáo chiếm đoạt giá trị không lớn đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả tiền công chở và tiền công lợp lại mái tôn cho bị hại, bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bên cạnh đó, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.7] Từ những phân tích nhận định như trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nhiều lần bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng bị cáo không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần chấp nhận quan điểm luật tội của đại diện Viện kiểm sát phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân lao động, điều kiện kinh tế khó khăn phải đi làm thuê nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
[4.1] Đối với bị hại ông Nguyễn Tuấn B bị chiếm đoạt 12 tấm tôn đã được Cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho ông B. Tại phiên hôm nay ông B vắng mặt trong hồ sơ thể hiện ông B không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4.2] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H2 mua 12 tấm tôn của bị cáo, khi mua bà H2 không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp. Đồng thời, bà H2 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 1.700.000 đồng mà bà đã bỏ ra mua tôn nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh sắt hình chữ T, một đầu có gắn chụp tháo ốc hình tròn loại lục giác là công cụ bị cáo dùng để phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe ba gác màu xanh tự chế không rõ số khung, số máy, biển kiểm soát 61L2-0627 thu giữ của bị cáo, bị cáo đã dùng làm phương tiện để phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên:
Tịch thu tiêu 01 thanh sắt hình chữ T, một đầu có gắn chụp tháo ốc hình tròn loại lục giác.
Sung vào ngân sách nhà nước 01 xe ba gác màu xanh tự chế không rõ số khung, số máy, biển kiểm soát 61L2-0627.
(tất cả có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 02/4/2024).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lưu Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/4/2024) bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo; riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm (người có liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn Hiển
