Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 56/2024/HSST

Ngày 18 tháng 7 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH -TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tám

Ông Huỳnh Thái Việt

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 24/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 10/7/2024 đối với bị cáo:

PHAN TIẾN Đ, sinh ngày: 20/3/1984; Giới tính: Nam; Sinh tại: L - Đồng Nai. Nơi thường trú: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện tại: Ấp E, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Cha: Phan Tiến T, sinh năm 1943 (chết); Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1950; Vợ Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1984. Có 02 con sinh lớn năm 2009 và nhỏ năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Ngày 12/7/2022 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định truy nã. Bị bắt theo lệnh truy nã và tạm giữ từ ngày 01/01/2023; bị tạm giam từ ngày 04/01/2023; Ngày 01/3/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh; Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Tiến Đ: Luật sư Lê Kim T1, Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5, địa chỉ: Số B, đường T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Đinh H1, chức vụ: Giám đốc chi nhánh; Người đại diện theo ủy quyền:

2

Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1972; trú tại: Số A KB S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Ông Bùi Văn T2 (tên gọi khác: Bùi Đình T3) sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Làng K, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. 1. Bà Phạm Thị N2, sinh năm 1975; trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Bà Phạm Thị N2 đã ủy quyền cho bà Trương Thị Thu H2, sinh năm 1990; trú tại: Số H, ngõ B đường T, quận N, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
  2. 2. Ông Từ Công L, sinh năm 1988; trú tại: Xóm L, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  3. 3. Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1977; trú tại: Tổ B, Ấp E, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Văn H3, sinh năm 1990; trú tại: Xóm Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 04h00' ngày 03/11/2021, Từ Công Luận điều khiển xe ô tô tải biển số 29H-417.19 lưu thông trên phần đường phải tuyến đường dẫn hầm đường bộ qua Đèo Cả từ hầm C ra Quốc lộ A hướng Bắc - N. Khi đến Km 12+440 thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì xe nổ lốp bánh trước bên phải nên L điều khiển tấp xe về lề phải và dừng xe trên làn đường dừng xe khẩn cấp bên phải đường. Do xe dài và đường cong nên có một phần bên trái xe ô tô tải 29H-417.19 nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới bên phải của phần đường phải, tuyến đường dẫn hầm đường bộ qua Đèo Cả. Sau khi dừng xe Luận bật đèn cảnh báo rồi bảo Trần Văn H3 là tài xế đi cùng xe trông coi xe còn L đi đến bảo vệ hầm để báo sự việc. Trần Văn H3 khai có bẻ cành cây và lấy thùng xốp đặt sau xe 7 - 10 mét để cảnh báo rồi đi đến trước đầu xe đứng chờ. Đến khoảng 4h40' cùng ngày thì có xe ô tô biển số 37B-013.83 do Phan Tiến Đ điều khiển lưu thông trên đường dành cho xe cơ giới bên phải của phần đường phải tuyến đường dẫn hầm đường bộ qua Đèo Cả hướng Bắc - N. Khi cách xe 29H-417.19 khoảng 60 - 70 mét thì Đ biết có xe đang dừng trên làn đường khẩn cấp, nhưng Đ vẫn điều khiển xe ô tô 37B-013.83 lấn sang làn đường dừng xe khẩn cấp. Khi đến gần xe tải trên thì Đ có thắng xe ô tô của mình và lách sang bên trái qua làn xe cơ giới đề tránh nhưng không kịp đã để đầu xe ô tô 37B-013.83 tông vào đuôi xe ô tô 29H-417.19 gây ra tai nạn giao thông.

Hiện trường vụ tai nạn là đoạn đường dẫn hầm đường bộ từ hầm Cổ Mã ra Quốc lộ A thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đường được phân thành hai làn đường lưu thông ngược chiều nhau ở giữa là dải phân cách cứng (bồn hoa). Nơi xảy ra tai nạn ở phần đường phải hướng Bắc - Nam từ hầm C chạy ra Quốc lộ A tại Km 12+440, đoạn đường cong về bên phải trải nhựa bằng phẳng. Phần đường có làn đường dành cho xe cơ giới ở phía trong giáp với dải phân cách cứng rộng 7 mét,

3

ở giữa có vạch sơn trắng nét đứt (vạch 2.1) phân thành hai làn đường trái phải. Làn đường khẩn cấp nằm bên ngoài rộng 2,6 mét, phân chia làn đường cơ giới và làn đường khẩn cấp là vạch sơn trắng liền nét (vạch 3.1a). Hướng phải hiện trường được xác định theo hướng Bắc - N, đơn vị đo đạc được tính bằng mét (m).

Cách điểm mốc (Trụ điện số 15G) 12,6m về hướng Nam là vết bánh ma sát kéo dài liên tục 36,5m. Điểm đầu nằm trên làn đường dừng khẩn cấp, cách mép đường chuẩn (lề đường phải) 2,2m, vết phanh kéo dài theo hướng Bắc - Nam từ làn đường khẩn cấp sang làn đường cơ giới bên phải. Điểm cuối trùng với vị trí bánh xe trước bên phải của xe ô tô 37B-013.83 và cách mép đường chuẩn 3,8m. Xe ô tô 37B-013.83 sau tai nạn dừng trên làn đường dành cho xe cơ giới bên phải, đầu xe quay về hướng N, đuôi xe quay về hướng Bắc. Trục bánh sau và bánh trước bên phải xe ô tô cách mép đường chuẩn lần lượt là 3,3m và 3,8m. Góc bên phải đầu xe ô tô dính vào góc bên trái đuôi xe ô tô tải 29H-417.19. Xe ô tô tải 29H-417.19 sau tai nạn đầu xe ở trên làn đường dừng khẩn cấp quay chếch về hướng Tây - N. Bánh trước bên phải xe nằm trên lề bê tông cách mép đường 0,2m phần đuôi xe quay chếch về hướng Đông - B, một phần đuôi xe nằm trên làn đường dừng khẩn cấp, một phần nằm trên đường dành cho xe cơ giới bên phải. Trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 1,35m, cách trục bánh trước bên phải xe ô tô 37B-013.83 là 4,3 m.

Quá trình điều tra Phòng C1 Công an Tỉnh K có trích xuất camera thu giữ một đoạn video giám sát an ninh của Xí nghiệp quản lý hầm đường bộ Đèo Cả dài 05 phút 01 giây ở thời điểm trước và sau khi xảy ra tai nạn giữa ô tô tải 29H- 417.19 và ô tô khách 37B- 013.83. Sau đó Cơ quan điều tra Công an huyện V tiếp tục trích xuất camera an ninh để thu giữ toàn bộ đoạn video từ lúc xe ô tô tải 29H- 417.19 dừng cho đến lúc xảy ra tai nạn dài khoảng 40 phút thì đoạn video này không còn vì dữ liệu lưu trữ chỉ lưu được khoảng một tháng. Tiến hành xem xét dữ liệu camera đã trích xuất thu giữ trên thấy trước khi xảy ra tai nạn xe ô tô tải 29H- 417.19 đang dừng trên làn đường dành cho xe dừng khẩn cấp bên phải theo hướng đi và có một phần bên trái xe ô tô tải lấn sang làn đường dành cho xe cơ giới bên phải. Xe ô tô tải 29H- 417.19 có bật đèn nhấp nháy cảnh báo, ở phía sau xe ô tô tải không thấy có vật cảnh báo. Tuy nhiên, do không thu giữ toàn bộ đoạn video từ lúc xe ô tô tải 29H-417.19 dừng cho đến lúc xảy ra tai nạn thời gian khoảng 40 phút nên chưa đủ cơ sở để khẳng định Trần Văn H3 không đặt vật cảnh báo phía sau xe ô tô tải 29H- 417.19.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa có công văn gửi Phòng K1 Công an tỉnh K đề nghị phân tích hình ảnh đoạn video đã thu giữ để xác định xe ô tô tải đang dừng, bánh trước và bánh sau bên trái xe ô tô tải lấn sang làn đường dành cho xe cơ giới ở thời điểm trước khi xảy ra tai nạn là bao nhiêu đồng thời làm rõ các biển số xe có trong đoạn video. Phòng K1 Công an Tỉnh K đã có công văn trả lời không thực hiện được vì nội dung đề nghị vượt quá khả năng phương tiện, thiết bị hiện có của đơn vị.

Ngày 14/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành thực nghiệm điều tra để xác định việc tài xế xe tải để một phần bên trái xe 29H-417.19 lấn sang làn đường dành cho xe cơ giới là do bất khả kháng hay do tài xế

4

không làm hết trách nhiệm. Tham gia Hội đồng thực nghiệm có cán bộ chuyên môn sở giao thông vận tải tỉnh K, Phòng K1 Công an tinh K. Nơi tiến hành thực nghiệm tại bãi đỗ xe thuộc Tổ dân phố số I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Phương tiện dùng để thực nghiệm là ô tô tải 79H-001.09 có chủng loại, kích thước tương tự với ô tô tải 29H- 417.19. Tiến hành thay bánh trước bên phải của xe ô tô tải 79H- 001.09 bằng bánh xe có cùng thông số kỹ thuật, lốp rách, bên trong không còn áp suất hơi để phục vụ cho thực nghiệm. Sau khi xem xét đánh giá Hội đồng thực nghiệm nhận thấy không bảo đảm an toàn để tiến hành thực nghiệm vận hành phương tiện lưu thông trong điều kiện lốp trước bên phải bị nổ không còn áp suất hơi, do đó Hội đồng thống nhất không tiến hành thực nghiệm điều tra. Do không thể tiến hành việc thực nghiệm điều tra nên không có căn cứ để xác định lỗi của tài xế Từ Công Luận.

Hậu qủa:

Tại kết luận định giá tài sản số 90/2021/KL-TTHS ngày 07/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện V kết luận: Tổng thiệt hại xe ô tô tải biển số 29H-417.19 do tai nạn gây ra là 119.965.000 đồng (một trăm mười chín triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Tại kết luận định giá tài sản số 91/2021/KL-TTHS ngày 07/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện V kết luận: Tổng thiệt hại xe ô tô biển số 37B-013.83 do tai nạn gây ra là 126.340.000 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại mục 25 của kết luận xác định tiền cầu kéo xe từ N vào thành phố Hồ Chí Minh để sửa chữa với số tiền là 18.000.000 đồng. Như vậy số tiền thiệt hại thực tế sau khi trừ chi phí cẩu kéo xe là 108.340.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra Phan Tiến Đ không có mặt ở địa phương nên Cơ quan Điều tra đã ra lệnh truy nã và bị bắt theo lệnh truy nã, sau đó đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cả và đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tạm giữ : 01 (một) xe ôtô tải, biển số: 29H-417.19; hiệu: HINO; Số máy: J08EWE10815; Số khung: 8JT7KLX10340 ; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký số: 804739 của xe ôtô 29H-417.19 ; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, số: 3290967 của xe ôtô 29H-417.19. Đã trả cho Nguyễn Văn N1 đại diện chủ sở hữu; 01 (một) xe ôtô biển số: 37B-013.83; Nhãn hiệu: UNIVERSE, Số máy: OL33DAD00028; Số khung: SWYNEX00005; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký số: 007516 của xe ôtô 37B-013.83 ; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, số: 7141467 của xe ôtô 37B-013.83. Đã trả cho Phạm Thị N2 chủ sở hữu ; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số: [...] của Từ Công Luận. Đã trả cho Từ Công L chủ sở hữu ; 02 (hai) đĩa CD hiệu Maxell có nội dung giống nhau, bên trong mỗi đĩa có chứa một file video MP4 dung lượng 75,3 MB, thời lượng 05 phút 01 giây ( được niêm phong đưa vào hồ sơ vụ án) ; Số

5

tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) thu của Nguyễn Đăng K đã nộp vào Kho bạc nhà nước huyện V và đã chuyển cho bà Phạm Thị N2 ; 01 giấy phép lái xe hạng E của Phan Tiến Đ số [...] (kèm theo hồ sơ vụ án).

Phần dân sự: Phạm Thị N2 là chủ xe ô tô khách 37B-013.83 đã bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô tải 29H-417.19 bị hư hỏng số tiền 100.050.000 đồng (một trăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyễn Văn N1 là đại diện theo ủy quyền của chủ xe tải 29H-417.19 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì.

Ngày 04/3/2021 Bùi Văn T2 (tên gọi khác: Bùi Đình T3) có thuê xe ô tô biển số 37B-013.83 của Phạm Thị N2 để kinh doanh vận chuyển hành khách dài hạn, T3 thuê Phan Tiến Đ làm tài xế điều khiển xe đến ngày 03/11/2021 thì xảy ra tai nạn. Chị N2 yêu cầu bồi hoàn và bồi thường tất cả là 590.000.000 đồng (năm trăm chín mươi triệu đồng). Trong đó yêu cầu bị cáo ĐBùi Văn T2 phải bồi hoàn cho chị N2 số tiền 100.050.000 đồng (đây là số tiền mà chị N2 đã thay bị cáo ĐBùi Văn T2 bồi thường cho người đại diện bị hại Nguyễn Văn N1), vì số tiền này T2Đ có trách nhiệm bồi thường cho anh N1; yêu cầu T2Đ bồi thường thiệt hại xe 37B-013.83 và các chi phí khác như kéo xe, mất thu nhập do xe không hoạt động, chi phí đi lại tổng cộng 489.950.000 (bốn trăm tám mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Nguyễn Đăng K là anh vợ của Phan Tiến Đ đã giao nộp 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) cho Cơ quan điều tra để khắc phục một phần hậu quả cho Đ. Anh K không yêu cầu Đ phải bồi hoàn số tiền trên. Hiện số tiền này đã tạm giữ vào Kho bạc nhà nước huyện V và đã chuyển cho bà Phạm Thị N2.

Đối với Từ Công Luận điều khiển xe ô tô tải biển số 29H-417.19 dừng trên làn đường dừng xe khẩn cấp có một phần xe bên trái trên làn đường dành cho xe cơ giới bên phải của tuyến đường dẫn hầm đường bộ qua Đèo Cả là do xe ô tô tải 29H-417.19 bị nổ lốp bánh trước bên phải vả lại do xe dài và vào đoạn đường cong nên đây là sự kiện bất ngờ và khách quan. L có bật đèn cảnh báo dừng xe và đèn nhận diện quanh thân xe nên Đ đã phát hiện xe dừng phía trước từ xa. Trần Văn H3 là tài xế đi cùng xe với L khai có bẻ cành lá và thùng xốp đặt sau xe tải khi dừng để cảnh báo nên Từ Công Luận không có lỗi.

Bản cáo trạng số: 50 /CT-VKSVN ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Phan Tiến Đ về tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; Áp dụng các điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phan Tiến Đ với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5 đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại tài sản nên không yêu cầu gì thêm nên không xét. Bùi Văn T2 phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bà Phạm

6

Thị N2 số tiền là 50.050.000 đồng (Năm mươi triệu không trăm năm chục ngàn đồng). Tách phần yêu cầu của bà Phạm Thị N2 đối với Bùi Văn T2Phan Tiến Đ về việc bồi thường thiệt hại xe 37B-013.83 và các chi phí khác như kéo xe, mất thu nhập do xe không hoạt động, chi phí đi lại tổng cộng 489.950.000đ (bốn trăm tám mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về vật chứng trả lại cho Phan Tiến Đ 01 (một) giấy phép lái xe hạng E của Phan Tiến Đ số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 30/11/2018.

Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo Phan Tiến Đ cho rằng: Trước khi phát hiện xe tô tô tải 29H-417.19, xe ô tô 37B -013.83 do bị cáo điều khiển lưu thông song song với một xe ô tô khác cùng chiều ở làn đường bên trong với tốc độ cao (vì đoạn đường xảy ra tai nạn là đường cao tốc) và đường cong nên xe bị cáo có lấn sang mép đường khẩn cấp để đảm bảo an toàn, sau đó bị cáo đã điều khiển xe trở lại hoàn toàn trong làn đường xe cơ giới thì phát hiện xe ô tô tải 29H-417.19 khoảng cách gần 50m bị cáo đã giảm tốc độ và đạp phanh, trước khi bị cáo tông vào đuôi xe tải bị cáo đã điều khiển xe trở lại hoàn toàn trong phạm vi làn đường xe cơ giới (thể hiện rõ trong biên bản hiện trường và các bản ảnh có trong hồ sơ vụ án) nên bị cáo không còn lựa chọn nào khác là để xe bị cáo tông vào đuôi xe ô tô tải 29H-417.19. Như vậy trường hợp này thuộc trường hợp bất khả kháng. Từ các căn cứ trên thể hiện bị cáo hoàn toàn không có lỗi trong việc gây ra tai nạn giao thông với xe tải 29H-417.19.

Như vậy, cáo trạng truy tố không có căn cứ để cho rằng bị cáo vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Theo Quyết định số 1125/QĐ-UBND, ngày 23/5/2018 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện V, tỉnh Khánh Hòa về việc kiện toàn Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì ông Nguyễn Xuân H4 không có tên trong hội đồng định giá tài sản nhưng ông Nguyễn Xuân H4 lại tham gia hội định giá tài sản ngày 07/12/2021 là không đúng thành phần.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ ngày 19/11/2021 xác định tài sản bị thiệt hại của xe ô tô tải 29H-417.19 gồm 09 bộ phận nhưng tại Kết luận định giá tài sản số 90/KL- TTHS ngày 07/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V lại tăng thêm 02 bộ phận là mục 6 và mục 11 là không có trong quá trình khám nghiệm xe nên giá trị thiệt hại là không đủ định lượng để truy tố.

Khi dựng lại hiện trường ngày 14/01/2022 bị cáo không có mặt tại hiện trường đồng thời Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 14/01/2022 (dựng lại hiện trường) không có chữ ký của bị cáo.

Ngoài ra, người điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-417.19 là Từ Công Luận cũng có lỗi trong việc dừng xe khẩn cấp có một phần đuôi xe bên trái nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới bên phải của tuyến đường dẫn hầm đường bộ qua Đèo.

7

Luật sư và Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nhân chứng không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đối với Bị hại Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5; Bị đơn dân sự ông Bùi Văn T2; Ông Từ Công L; Người làm chứng Trần Văn H3 đều vắng mặt tại phiên tòa (mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai) nhưng đã có lời khai trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[2] Tại phiên tòa Luật sư bào chữa và bị cáo Phan Tiến Đ cho rằng việc gây ra tai nạn giao thông với xe tải 29H-417.19 bị cáo không có lỗi như Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ là không có cơ sở bởi tại Bản tự khai ngày 24/02/2023 (BL 183) và biên bản lấy lời khai bị cáo Phan Tiến Đ (BL 188-191) bị cáo Phan Tiến Đ thừa nhận có một phần lỗi thuộc về bị cáo.

Về thành phần Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự theo Quyết định số 8446/QĐ-UBND, ngày 03/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện V, tỉnh Khánh Hòa và Công văn số 741/2021/Cv-HDĐGTTHS ngày 08/12/2021 và có định giá tăng thêm 02 bộ phận là mục 6 và mục 11 theo yêu cầu của Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Khánh Hòa là đúng với quy định của pháp luật.

Việc cho rằng khi dựng lại hiện trường ngày 14/01/2022 bị cáo không có mặt và không có chữ ký của bị cáo vấn đề này Viện kiểm sát đã chứng minh quá trình dựng lại hiện trường, cơ quan điều tra đã triệu tập nhưng bị cáo không đến.

Qua nhiều lần trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung xác định lỗi của tài xế Từ Công Luận nhưng Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát xét thấy không có cơ sở để xử lý Từ Công Luận.

Như vậy, qua các lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong vụ án và sau khi xem trình chiếu đoạn video dữ liệu camera ghi lại diễn biến trước và khi xảy ra tai nạn đã đủ cơ sở để xác định Phan Tiến Đ có giấy phép lái xe hạng E có giá trị đến ngày 30/11/2023; Khoảng 4h40' ngày 03/11/2021 Phan Tiến Đ điều khiển xe ô tô khách biển số 37B-013.83

8

lưu thông trên phần đường phải của tuyến đường dẫn hầm đường bộ qua Đèo Cả hướng Bắc - N. Đến Km 12+440 là đoạn đường dẫn từ hầm C ra Quốc lộ A thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Đ đã để xe ô tô 37B-013.83 đi lấn vào làn đường dừng xe khẩn cấp, không làm chủ được tốc độ nên để xe 37B-013.83 tông vào đuôi xe ô tô tải 29H-417.19 đang dừng trên làn đường dừng xe khẩn cấp có một phần bên trái nằm trên làn đường xe cơ giới dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả xe ô tô tải 29H-417.19 bị hư hỏng thiệt hại tổng cộng 119.965.000 đồng (một trăm mười chín triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn). Lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác. Như vậy, hành vi của Phan Tiến Đ đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: "1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

Do đó bản Cáo trạng số 50 /CT-VKSVN, ngày 24 tháng 5 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Phan Tiến Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng với các quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo Phan Tiến Đ là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tài sản, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân; đây là những khách thể quan trọng được Luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa chung. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cụ thể đã bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đang có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung. Xét thấy, bị cáo và gia đình cũng có những khó khăn nhất định nên cần miễn việc khấu trừ thu nhập.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5 đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Đối với yêu cầu của bà Trương Thị Thu H2 đại diện ủy quyền của bà Phạm Thị N2 yêu cầu bị cáo Phan Tiến Đ phải bồi thường toàn bộ số tiền mà bà N2 đã thay bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5 là 100.050.000 đồng. Tuy nhiên bị cáo Đ đã đưa trước 50.000.000 đồng như vậy bị cáo Đ còn phải tiếp tục trả cho bà N2 50.050.000 đồng. Xét thấy, việc bà N2 chỉ yêu cầu bị cáo Đ bồi

9

thường là chưa hợp lý. Vì đây là trách nhiệm liên đới giữa người quản lý xe và người được thuê để điều khiển xe. Như vậy, bị cáo ĐBùi Văn T2 phải có trách nhiệm bồi thường cho bà N2 số tiền 100.050.000 đồng. Tuy nhiên bị cáo Đ đã đưa trước 50.000.000 đồng như vậy bị cáo Đ đã thực hiện xong việc bồi thường số tiền trên cho bà N2. Phần còn lại là 50.050.000 đồng Bùi Văn T2 phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bà N2.

Số tiền còn lại là 489.950.000 (bốn trăm tám mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) gồm chi phí sửa chữa xe, tiền vay ngân hàng và tiền thuê xe theo giá thị trường... bà N2 tiếp tục yêu cầu Bùi Văn T2Phan Tiến Đ bồi thường. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã nhiều lần triệu tập ông Bùi Văn T2 để lấy lời khai liên quan đến vấn đề hợp đồng thuê xe 37B-013.83 giữa ông T2 với bà N2 và việc ông T2 thuê bị cáo Đ điều khiển xe nhưng ông T2 đều không có mặt nên không làm rõ được trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án này. Vì vậy cần tách yêu cầu này của bà N2 ra để giải quyết thành vụ án khác khi bà N2 có yêu cầu.

Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho Phan Tiến Đ 01 (một) giấy phép lái xe hạng E của Phan Tiến Đ số [...].

Đối với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) do Nguyễn Đăng K giao nộp, Công an huyện V đã nộp vào Kho bạc nhà nước huyện V. Đến ngày 17/7/2024, Công an huyện V đã rút và chi trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trương Thị Thu H2 (đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị N2) nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo Phan Tiến Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị đơn dân sự ông Bùi Văn T2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 50.050.000 đồng x 5%= 2.502.500 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự2015 ;

Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “ Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

1. Xử phạt bị cáo: PHAN TẾN ĐỨC 06 ( sáu ) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2023 đến ngày 01/3/2023 được tính trừ vào thời gian chấp hành án (cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Thời

10

hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phan Tiến Đ.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5 đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại tài sản nên yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

Bùi Văn T2 phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bà Phạm Thị N2 số tiền là 50.050.000 đồng (Năm mươi triệu không trăm năm chục ngàn đồng).

Quy định: Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Tách phần yêu cầu của bà Phạm Thị N2 đối với Bùi Văn T2Phan Tiến Đ về việc bồi thường thiệt hại xe 37B-013.83 và các chi phí khác như kéo xe, mất thu nhập do xe không hoạt động, chi phí đi lại tổng cộng 489.950.000 (bốn trăm tám mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

3. Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho Phan Tiến Đ 01 (một) giấy phép lái xe hạng E, số [...] mang tên Phan Tiến Đ do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 30/11/2018.

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 02 (hai) đĩa CD hiệu Maxell.

4. Về án phí: Bị cáo Phan Tiến Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị đơn dân sự ông Bùi Văn T2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.502.500 đồng (hai triệu năm trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Tiến Đ, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trương Thị Thu H2 (đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị N2) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Riêng các đại diện hợp pháp của bị hại Công ty TNHH Một thành viên C Chi nhánh H5, người đại diện theo pháp luật ông Đào Đinh H1; Bị đơn dân sự ông Bùi Văn T2; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Từ Công L, ông Nguyễn Đăng K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

11

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Bị đơn dân sự;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 56/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo: PHAN TẾN ĐỨC 06 ( sáu ) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2023 đến ngày 01/3/2023 được tính trừ vào thời gian chấp hành án (cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phan Tiến Đ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger