|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2024
V/v: “Kiện ly hôn,
tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Kim Minh;
- Bà Vũ Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai. Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 124/2024/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Cồ Thị P - Sinh năm 1976
Địa chỉ: Số nhà D đường K, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”
-
Bị đơn: Anh Phùng Văn S - Sinh năm 1966
Địa chỉ: Số nhà D đường K, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt"
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cồ Thị P trình bày: Chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 29/12/2004 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc hoà thuận được 9 năm đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng chung sống không có tình cảm, vợ chồng thường xuyên ly thân nhau. Trong quá trình chung sống, mặc dù ở cùng nhà nhưng hai người rất ít chia sẻ về cách nuôi dạy con cái, những khó khăn trong cuộc sống gia đình, hai vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung, cuộc sống luôn căng thẳng và mệt mỏi. Đến nay chị Cồ Thị P xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn S.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị P, anh S có 02 con chung là Phùng Đức N, sinh ngày 29/8/2007 và cháu Phùng Hải T, sinh ngày 27/8/2009. Khi ly hôn, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu cấp dưỡng. Trường hợp các con có nguyện vọng ở cùng anh S thì chị P cũng nhất trí.
Về tài sản: Chị Cồ Thị P không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phùng Văn S trình bày: Anh Phùng Văn S nhất trí về ngày tháng năm và địa điểm đăng ký kết hôn như chị Cồ Thị P trình bày. Anh S xác định từ khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, hầu như không có mâu thuẫn gì lớn, anh S không nhất trí ly hôn, mong muốn vợ chồng được đoàn tụ; Về con chung: Anh Phùng Văn S xác định vợ chồng có 02 người con chung như chị P khai, việc các con ở với ai là do các cháu quyết định; Về tài sản: Anh Phùng Văn S không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên ý kiến; Bị đơn xác định nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn là do chị P có quan hệ ngoại tình. Đến nay chị P nhất quyết ly hôn anh S cũng nhất trí thuận tình ly hôn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:
- [1.1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến yêu cầu xem xét vấn đề gì về thủ tục tố tụng.
- [1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
-
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
- [2.1] Về hôn nhân: Chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn 29/12/2004 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện do vậy hôn nhân giữa chị P và anh S là hôn nhân hợp pháp. Chị P cho rằng từ năm 2013 vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, vợ chồng chung sống không có tình cảm, rất ít chia sẻ về cách nuôi dạy con cái, những khó khăn trong gia đình, hai vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung, cuộc sống luôn căng thẳng và mệt mỏi, vợ chồng thường xuyên ly thân nhau. Tại phiên tòa anh S xác định nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn là do chị P có quan hệ ngoại tình. Đến nay chị P nhất quyết ly hôn anh S cũng nhất trí thuận tình ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn tại phiên tòa chị P, anh S nhất trí thuận tình ly hôn. Vì vậy căn cứ điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S là phù hợp.
- [2.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S có 02 con chung là Phùng Đức N, sinh ngày 29/8/2007 và cháu Phùng Hải T, sinh ngày 27/8/2009. Xét việc giao nuôi con thì thấy rằng chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu cấp dưỡng. Trường hợp con có nguyện vọng ở cùng anh S thì chị P cũng nhất trí; Anh S cho rằng việc con cái ở với ai là do các cháu quyết định; cháu N có nguyện vọng ở với chị P, cháu T có nguyện vọng ở với anh S vì vậy giao cháu Phùng Đức N cho chị P, giao cháu Phùng Hải T cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng bên nào là phù hợp.
- [2.3] Về tài sản chung: Chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [3] Về án phí: Chị Cồ Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 55, điều 81, điều 82, điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cồ Thị P
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S. Quan hệ hôn nhân của chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Phùng Đức N, sinh ngày 29/8/2007 cho chị Cồ Thị P; Giao cháu Phùng Hải T, sinh ngày 27/8/2009 cho anh Phùng Văn S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng bên nào. Các bên có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí: Chị Cồ Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn. Xác nhận chị P đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000588 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai được trừ vào tiền án phí phải nộp.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
3
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
4
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện "Ly hôn" giữa chị Cồ Thị P và anh Phùng Văn S
