|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày 17-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Tuấn Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 756/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 884/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị M; nơi cư trú: Số C P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình C; đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu B, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số C P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 02/4/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị M trình bày:
Chị Trịnh Thị M và anh Nguyễn Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 01/6/2006. Đến nay có hai con chung.
Quá trình chung sống: Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2021 do hai bên luôn bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cãi vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được. Từ năm 2023 đến nay hai bên đã sống ly thân. Nay chị M xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh C.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/8/2006 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 23/01/2015. Chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cả hai con chung đến khi con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị M trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Đình C vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Các văn bản tống đạt cho anh C đã được niêm yết theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn không chấp hành quy định pháp luật theo các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị M và anh Nguyễn Đình C kết hôn từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 01/6/2006 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên nảy sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2023 đến nay do bất đồng quan điểm sống, hai bên thường xảy ra cãi vã. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Thị M, giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đình C.
Về con chung: Chị Trịnh Thị M và anh Nguyễn Đình C có hai con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/8/2006 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 23/01/2015. Hiện nay cả hai con đều đang sống với chị M. Con chung Nguyễn Kim A và Nguyễn Kim N đã có đơn đề nghị được sống với mẹ, tuy nhiên đến nay con Nguyễn Kim N đã thành niên nên chị M không yêu cầu xem xét. Quá trình giải quyết vụ án, anh C không có quan điểm gì về việc nuôi con. Xét thấy cần tiếp tục giao con cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Kim N là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị M không yêu cầu nên không xét.
Về tài sản chung: Chị M trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự và xác minh của Tòa án thể hiện: Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 197, có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu B, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện thường xuyên ăn ở sinh hoạt tại: Số C P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa chị Trịnh Thị M và anh Nguyễn Đình C thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trịnh Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do bận công việc đột xuất, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị M là hợp lệ nên chấp nhận. Bị đơn là anh Nguyễn Đình C vắng mặt lần thứ 2 không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị M và anh Nguyễn Đình C kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2006 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 01/6/2006 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
[4] Quá trình chung sống: Chị M trình bày hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và đã ly thân từ giữa năm 2023 đến nay. Chính quyền địa phương xác nhận vợ chồng có những mâu thuẫn, xích mích trong gia đình nhưng không rõ nguyên nhân cụ thể. Giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh C, việc triệu tập tuân thủ đúng các quy định pháp luật, nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do, cũng không có bất kì quan điểm hay ý kiến gì về việc ly hôn. Điều này cho thấy anh C đã tự từ bỏ quyền cũng như không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật, đồng thời cũng không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc chị M yêu cầu được ly hôn anh C là có cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5] Về con chung: Chị Trịnh Thị M và anh Nguyễn Đình C có hai con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13/8/2006 và Nguyễn Kim N, sinh ngày 23/01/2015. Hiện nay hai cháu Kim A và Kim N đều đang sống với chị M, và cùng có đơn trình bày nguyện vọng nếu Toà án giải quyết cho bố mẹ ly hôn thì các cháu xin được sống với mẹ. Tại thời điểm xét xử, cháu Kim A đã thành niên nên không xét. Quá trình giải quyết vụ án, anh C không hợp tác, không có quan điểm nào về việc nuôi con chung. Xét yêu cầu của chị M là phù hợp với nguyện vọng của con chung và hoàn cảnh thực tế nên cần giao con Nguyễn Kim N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M, giao con Nguyễn Kim N cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
[6] Về tài sản chung: Chị M trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về án phí: Chị Trịnh Thị M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị M được ly hôn anh Nguyễn Đình C.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Kim N, sinh ngày 23/01/2015 cho chị Trịnh Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trịnh Thị M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị C1 đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003272 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Mai- Chúng
