TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/DS-ST
Ngày 17 tháng 8 năm 2024
V/v: “Kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Biên;
- Ông Nguyễn Văn Môn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, về việc “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1959; địa chỉ: Số E, tổ B, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà B, tổ A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Hữu K, sinh năm 1957; địa chỉ: Số E, tổ B, phường M, thành phố B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phan Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Hữu K thống nhất xác định:
Do có mối quan hệ họ hàng, nên bà có vay hộ bà M tiền để làm ăn, bà đưa tiền làm nhiều lần, nên ngày 20/10/2016, bà và bà M có chốt nợ lại là 900.000.000 đồng. Ngày 12/02/2018, bà M đã trả cho bà 100.000.000 đồng.
Ngày 12/4/2018 bà M trả 100.000.000 đồng, số tiền này là tiền bà cầm của bà M1 là mẹ chồng bà M do bà M1 gửi cho bà, vì bà M nói cho bà M mượn số tiền 100.000.000 đồng này để bà M không phải trả lãi, khi nào bà M1 cần thì bà M trả cho bà M1. Nên bà phải trả cho bà M1 100.000.000 đồng. Nay bà xác định bà M còn nợ bà 800.000.000 đồng. Bà khởi kiện đề nghị buộc bà M phải trả cho bà số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa, bà Phan Thị H thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 100.000.000 đồng mà bà M mượn lại bà M1, bà cầm của bà M1 nhưng bà không có tài liệu chứng minh cho bà M mượn lại. Do đó, bà yêu cầu bà M phải thanh toán cho bà số tiền 700.000.000 đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm từ tháng 01/2022 cho đến nay, tính thời gian là 2 năm 06 tháng với số tiền tương ứng là 122.500.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị M có lời khai xác định:
Ngày 20/10/2016, bà và bà H có chốt nợ lại là 900.000.000 đồng. Ngày 12/4/2018, bà M đã trả cho bà H 100.000.000 đồng. Sau đó, bà H1 và bà có chơi họ với nhau mỗi tháng 10.000.000 đồng. Từ năm 2017 đến năm 2019 là 03 năm là 360.000.000 đồng. Ngoài ra, bà còn đóng tiếp cho bà H từ tháng 01/2020 đến tháng 7/2020 là 140.000.000 đồng. Do vậy, từ khi chốt nợ bà đã trả cho bà H 500.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại là 400.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền bà trả cho bà H chỉ đưa tay, không viết giấy trả. Nay bà H cho rằng, bà còn nợ 800.000.000 đồng bà không đồng ý, bà nhất trí trả cho bà H 400.000.000 đồng và lãi suất phát sinh, nhưng hiện nay, bà khó khăn về kinh tế, nên chưa trả được.
Phần tranh luận: Không.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến, về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H đối với bà Nguyễn Thị M.
- - Buộc bà Nguyễn Thị M phải trả lại cho bà Phan Thị H và ông Ngô Hữu K số tiền vay là 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng) và tiền lãi là 122.500.000 đồng. Tổng cộng là 822.500.000 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xác định vụ án với quan hệ tranh chấp là “Kiện đòi tài sản” theo quy định tại Điều 26; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Bà Nguyễn Thị M đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt.
[3] Xét thời hiệu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện:
3.1. Về thời hiệu khởi kiện: Thỏa thuận số nợ giữa bà H và bà M ngày 20/10/2016 không thỏa thuận thời hạn thanh toán. Nay bà H khởi kiện vẫn trong thời hiệu theo Điều 429 của Bộ luật dân sự.
3.2. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:
3.2.1. Tại phiên tòa, bà Phan Thị H thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 100.000.000 đồng mà bà M mượn lại bà M1, mà bà cầm của bà M1 vì bà không có tài liệu chứng minh, là hoàn toàn tự nguyện và không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, nên Hội đồng xét xử chấp theo khoản 1 Điều 243, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.
3.2.2. Tại Giấy ghi nợ ngày 20/10/2016 do bà Nguyễn Thị M ký thể hiện bà Nguyễn Thị M nợ bà Phan Thị Hằng s tiền 900.000.000 đồng. Điều này cũng được bà Nguyễn Thị M xác nhận. Bà Phan Thị H cho rằng bà Nguyễn Thị M đã trả 200.000.000 đồng, còn nợ 700.000.000 đồng là có căn cứ. Bà Nguyễn Thị M cho rằng, bà đã trả cho bà Phan Thị H 500.000.000 đồng, nhưng bà Nguyễn Thị M không có chứng cứ tài liệu nào để chứng minh. Do đó, yêu cầu của bà Phan Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị M trả 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 166, Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự.
3.2.3. Về lãi suất:
Thỏa thuận số nợ giữa bà H và bà M ngày 20/10/2016 không thỏa thuận lãi suất. Nay, bà H yêu cầu tính lãi suất là 10%/năm là có căn cứ theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Lãi suất cụ thể: 700.000.000 đồng x 10%/năm x 2,6 năm = 122.500.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 274 và Điều 275, Điều 280, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H đối với bà Nguyễn Thị M.
- Buộc bà Nguyễn Thị M phải trả cho bà Phan Thị H và ông Ngô Hữu K số tiền nợ gốc là: 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng) và tiền lãi là 122.500.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 822.500.000 đồng (Tám trăm hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 36.675.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, sáu trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Kiên |
Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 56/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hằng - Mai tranh chấp HĐVTS
