Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Vân

Bà Lê Hải Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Mụi – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre và Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Tuấn Đ1

, sinh năm 1998, tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Mộng L và bà Nguyễn Thị B; Bị cáo chưa có vợ và con.

- Tiền án: 01.

+ Năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về “Tội trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/6/2023).

- Tiền sự: 01.

+ Ngày 24/3/2023, bị Công an xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng phạt vào ngày 30/3/2023.

- Nhân thân:

+ Ngày 04/12/2023, bị Công an xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng phạt vào ngày 06/12/2023.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Trần Hoàng Q

, sinh năm 1974; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Văn Anh T, sinh năm 1966; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: 298/28, Nơ Trang L1, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Nguyễn Thị Bé E, sinh năm 1974; (Vắng mặt)

Nơi thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi;

Nơi ở hiện tại: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Trí L2, sinh năm 1965; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Nguyễn Chí T1, sinh năm 1992; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/12/2023, Lê Tuấn Đ1 điều khiển xe đạp chở Nguyễn Chí T1 đến nhà bạn của T1 tại ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre chơi. Đến nơi, T1 vào nhà bạn, Đ1 ra ngoài đường đứng đợi. Trong lúc đứng đợi, Đ1 phát hiện nhà kho đối diện có dựng 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 của anh Trần Hoàng Q, trên xe có gắn sẵn chìa khóa nhưng không có người trông coi nên Đ1 nảy sinh ý định lấy trộm xe. Để thực hiện ý định, Đ1 lén lút đến mở khóa, nổ máy xe mô tô biển số 53S9-6567 rồi điều khiển chạy về nhà của T1. Tại đây, để tránh bị phát hiện, Đ1 đã tháo biển số xe 53S9-6567, thay bằng biển số 71B2-467.76 do Đ1 mua trước đó ở một vựa ve chai ở xã Q với giá 10.000 đồng. Tiếp tục, Đ1 điều khiển xe mô tô lấy trộm được đến tiệm S của anh Nguyễn Trí L2 để mua 01 cặp bọc tay cầm xe, 01 bộ tem xe mới dán vào, tháo bỏ rổ xe và bửng xe. Sau đó, Đ1 điều khiển xe về gửi ở bãi đậu xe của khu chung cư xã Q rồi về nhà T1 ngủ. Sáng ngày 05/12/2023, Đ1 quay lại chung cư xã Q lấy xe, khi điều khiển xe đến khu công nghiệp G thì bị Công an xã G phát hiện, thu giữ tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 đã qua sử dụng.

- 01 biển số 71B2-467.76.

- 01 bửng xe mô tô bằng nhựa, màu nâu đã cũ.

- 01 rổ trước xe mô tô bằng kim loại màu đen.

- 01 ba ga trước xe mô tô bằng kim loại.

Kết luận định giá tài sản số 385/KL-HĐĐG ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: Một xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 đã qua sử dụng, được mua vào năm 2001 (tài sản đã thu hồi) trị giá: 2.500.000 đồng.

Cáo trạng số 63/CT-VKSCT ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Lê Tuấn Đ1 về “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn Đ1 phạm “Tội trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Tuấn Đ1 từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Xử lý vật chứng:

+ Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại Trần Hoàng Q: 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567; 01 bửng xe mô tô bằng nhựa, màu nâu; 01 rổ trước xe mô tô bằng kim loại màu đen; 01 ba ga trước xe mô tô bằng kim loại.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 biển số 71B2-467.76.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 qua xác minh do anh Nguyễn Văn Anh T đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, anh T xác định đã cho xe mô tô biển số 53S9-6567 cho em vợ là anh Trần Hoàng Q, hiện xe do Q quản lý, sử dụng nên anh T không có yêu cầu gì. Qua đó, xác định anh Trần Hoàng Q là bị hại trong vụ án. Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại về vị trí, thời gian và đặc điểm tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vì động cơ tư lợi cá nhân, vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/12/2023 tại ấp L, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre, Lê Tuấn Đ1 đã có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 của anh Trần Hoàng Q có trị giá 2.500.000 đồng.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý và trông coi tài sản, bị cáo đã tiếp cận, lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại với giá trị tài sản là 2.500.000 đồng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Tuấn Đ1 phạm “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2023, bị cáo đã bị kết án về “tội trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lần này bị cáo lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tham gia nghĩa vụ quân sự, được Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh B tặng Giấy khen, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, điều này cho thấy thái độ xem thường pháp luật và bản tính khó cải tạo, giáo dục của bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và bản tính xem thường pháp luật của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về “tội trộm cắp tài sản”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 26/6/2023. Thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 26/6/2023. Trong thời gian thử thách, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mới (vào ngày 04/12/2023), căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, buộc bị cáo Lê Tuấn Đ1 phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của lần xét xử này theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[8] Xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 đã qua sử dụng; 01 bửng xe mô tô bằng nhựa, màu nâu đã cũ; 01 rổ trước xe mô tô bằng kim loại màu đen; 01 ba ga trước xe mô tô bằng kim loại là tài sản của bị hại Trần Hoàng Q, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại tài sản cho bị hại Q là phù hợp nên ghi nhận.

+ Đối với 01 biển số 71B2-467.76, bị cáo khai do bị cáo mua của một vựa ve chai ở xã Q với giá 10.000 đồng, qua xác minh bà Nguyễn Thị Bé E là chủ vựa ve chai ở ấp Q, xã Q cho biết bà có mua bán xe mô tô, xe máy cũ theo hình thức mua bán sắt vụn và mua bán biển số xe cũ với giá 10.000 đồng, tuy nhiên bà không biết có mua xe mô tô gắn biển số 71B2-467.76 hay không và không biết có bán biển số 71B2-467.76 cho ai hay không nên hiện tại chưa xác minh được nguồn gốc, chủ sở hữu của biển số trên, do đó, giao biển số 71B2-467.76 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ chủ sở hữu, xử lý theo quy định.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Đối với Nguyễn Chí T1: Quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo đều khai nhận hành vi trộm cắp tài sản trên do bị cáo tự mình thực hiện, không có bàn bạc hay thống nhất với T1, T1 không biết việc bị cáo trộm cắp xe và cũng không biết việc bị cáo chạy xe mô tô lấy trộm được về nhà T1. Qua làm việc, thể hiện lời khai của Nguyễn Chí T1 phù hợp với lời khai của bị cáo, quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh T1 có liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo nên có cơ sở xác định T1 không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập, xử lý Nguyễn Chí T1 đồng phạm với bị cáo về tội trộm cắp tài sản hoặc tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp nên ghi nhận.

Đối với ông Nguyễn Trí L2 là chủ tiệm S nơi Đ1 lấy chìa khóa tháo bửng, rổ xe mô tô biển số 53S9-6567, qua làm việc ông L2 khẳng định bị cáo tự ý đến tiệm lấy chìa khóa tháo bửng, rổ xe rồi bỏ đi, không có mua bán hay thay thế phụ tùng xe tại cửa tiệm nên có cơ sở xác định ông L2 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập, xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn Đ1 phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

[1] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn Đ1 09 (chín) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo Lê Tuấn Đ1 chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2024.

[2] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[3] Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Xử lý vật chứng:

+ Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị hại Trần Hoàng Q: 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu DRIN, màu nâu, biển số 53S9-6567 đã qua sử dụng; 01 bửng xe mô tô bằng nhựa, màu nâu đã cũ; 01 rổ trước xe mô tô bằng kim loại màu đen; 01 ba ga trước xe mô tô bằng kim loại.

+ Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C: 01 (một) biển số 71B2-467.76, để tiếp tục xác minh làm rõ chủ sở hữu, xử lý theo quy định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)

[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lê Tuấn Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND T.Bến Tre;
  • - VKSND T.Bến Tre;
  • - Cơ quan THAHS Công an T.Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp T.Bến Tre;
  • - VKSND H.Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H.Châu Thành;
  • - Công an H.Châu Thành;
  • - Bộ phận HS Công an H.Châu Thành;
  • - UBND xã Thới Lai, H.Bình Đại;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về hình sự sơ thẩm, tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm, Tội trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử 09 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger