|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 17-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Hữu Thanh
Ông Kim Ngọc Trường
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 61/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Tải Văn L, sinh ngày 14/6/1990, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Tải Văn T, sinh năm 1957 và bà Lâm Thị H, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ hình sự ngày 18/01/2024, đến ngày 27/01/2024 thì bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Trịnh Huy H1, sinh ngày 01/02/1996, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trịnh Minh S (đã chết) và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ hình sự ngày 18/01/2024, đến ngày 27/01/2024 thì bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Diệp Văn T1, sinh ngày 01/01/1975, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp X, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch Việt Nam; con ông Diệp Văn S1 (đã chết) và bà Trầm Thị N, sinh năm 1956; bị cáo có vợ tên Kim Thị H2, sinh năm 1975 và 02 người con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: 02 tiền án về tội đánh bạc, bản án gần nhất số 07/2021/HHST ngày 08/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xử phạt 10 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2022, đến ngày 18/01/2024 chưa được xóa án tích (trong bản án đã áp dụng tình tiết tái phạm); tiền sự: Không; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh kết án về tội đánh bạc theo bản án hình sự số 19/HSST, ngày 15/6/2009 với hình phạt chính 5.000.000đồng, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh kết án về tội đánh bạc theo bản án hình sự số 29/HSST, ngày 09/9/2016 với hình phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ và tại Quyết định số 174/QĐXPHC, ngày 14/11/2018 bị Công an huyện T xử phạt 1.5000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép; Bị cáo đến đầu thú và bị tạm giữ hình sự ngày 19/01/2024, đến ngày 27/01/2024 thì bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Người làm chứng; Bà Đỗ Thúy Q, sinh năm 1996. Nơi cư trú ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 18/01/2024, tổ tuần tra Công an huyện T kết hợp Công an xã L phát hiện bị cáo Trịnh Huy H1 đang điều khiển xe mô tô biển số 52-P8-1461 chở bị cáo Tải Văn L chạy từ hướng thị trấn T về hướng ấp C, xã L có biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra dừng phương tiện yêu cầu kiểm tra. Kết quả phát hiện bị cáo L cất giấu trong người 01 bịch nhựa trong suốt hình vuông được hàn kín, kích thước 03 x 03 cm, bên trong có chứa chất tinh thể nghi là ma túy. Bị cáo L và bị cáo H1 thừa nhận bịch nhựa có đặc điểm nêu trên là ma túy do hai bị cáo vừa mua về, cất giấu để sử dụng chung với bị cáo Diệp Văn T1 nên Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản tạm giữ, niêm phong chất tinh thể trên phục vụ công tác giám định. Đến ngày 19/01/2024, bị cáo Diệp Văn T1 đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T1.
Qua điều tra, làm rõ được như sau: Khoảng 18 giờ ngày 18/01/2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo T1 sử dụng điện thoại nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, sim số 0346.856.408 gọi vào sim số 0337.411.914 của bị cáo L để hỏi bị cáo L có tiền hùn mua ma túy về sử dụng chung hay không thì bị cáo L trả lời là không có tiền, nên bị cáo T1 đã tắt máy điện thoại. Khoảng 20 phút sau, bị cáo H1 một mình điều khiển xe mô tô biển số 52-P8-1461 đến nhà của bị cáo L có địa chỉ tại ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh để chơi và hỏi bị cáo L muốn bán gà trống cho bị cáo T1 với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) hay không thì bị cáo L đồng ý và mượn điện thoại di động của bị cáo H1 nhãn hiệu REDMI 10C, màu xanh, sim 1 số 0907.975.300, sim 2 số 0396094228 để gọi cho bị cáo T1 thỏa thuận với nhau việc mua bán gà. Bị cáo H1 sử dụng điện thoại của bị cáo đang gắn sim số 0396.094.228 gọi cho bị cáo T1 và đưa điện thoại cho bị cáo L để thỏa thuận việc mua bán gà với bị cáo T1. Khi bị cáo L đồng ý bán gà trống cho bị cáo T1 với giá 200.000 đồng, lúc này bị cáo T1 và bị cáo L thỏa thuận hùn tiền mua ma túy về sử dụng chung 700.000 đồng, trong này bị cáo T1 hùn 200.000 đồng, bị cáo L hùn 500.000 đồng, còn bị cáo H1 không có hùn tiền. Bị cáo T1 hẹn với bị cáo L và bị cáo H1 gặp tại hàng rào chùa G thuộc ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh để giao nhận tiền.
Trước khi đi gặp bị cáo T1, bị cáo L sử dụng điện thoại của mình nhãn hiệu VIVO, không có sim vào ứng dụng MESSENGER để gọi điện cho một người phụ nữ tên là “Quyên”, nơi ở tại khu vực ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh thỏa thuận mua ma túy với giá 700.000 đồng thì Q đồng ý và hẹn với bị cáo L đến nhà của bà Q có địa chỉ nêu trên để nhận ma túy. Sau đó, bị cáo H1 sử dụng xe mô tô của bị cáo H1 chở bị cáo L ngồi phía sau đi đến khu vực hàng rào chùa G gặp bị cáo T1.
Khi đến điểm hẹn, bị cáo L và bị cáo H1 gặp bị cáo T1. Lúc này, bị cáo T1 trực tiếp đưa tiền cho bị cáo L với số tiền là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) để mua ma túy. Đồng thời, bị cáo T1 nói với bị cáo L biết trong tổng số tiền 700.000 đồng nêu trên gồm các phần cụ thể: Số tiền bị cáo T1 mua gà trả cho bị cáo L 200.000 đồng, tiền bị cáo T1 hùn mua ma túy 200.000 đồng số tiền còn lại 300.000 đồng là của bị cáo T1 cho bị cáo L mượn để mua ma túy, quá trình thỏa thuận và giao nhận tiền mua ma túy thì bị cáo H1 đều biết rõ. Sau khi nhận tiền từ bị cáo T1, bị cáo H1 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở bị cáo L đến nhà người tên “Q” để lấy ma túy về.
Thời điểm khi đến khu vực trước nhà của bà Q, bị cáo H1 dừng xe mô tô lại và ngồi trên xe. Riêng bị cáo L một mình đi đến trước cửa hàng rào nhà người tên “Q” thì gặp người tên “Q” đang đứng đợi sẵn phía trong hàng rào cùng với một nam thanh niên bị cáo L không quen biết, bị cáo L đưa tiền mua ma túy cho người tên Q, còn người nam thanh niên thì đưa 01 bịch ma túy cho bị cáo L. Do trời tối, không đủ ánh sáng nên bị cáo L không nhận ra đặc điểm của của người thanh niên trên. Sau khi nhận được số ma túy đã mua, bị cáo L cất giấu trong người và tiếp tục ngồi phía sau xe mô tô để bị cáo H1 chở về gặp bị cáo T1 cùng nhau sử dụng. Trên đường về đến khu vực ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị lực lương Công an phát hiện, bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật như nêu trên.
Căn cứ vào Bản kết luận giám định số: 38/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tinh thể chứa trong 01 (một) bịch nhựa trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,5118 gam.
* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:
Ngày 15/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, cụ thể như sau:
-
Tạm giữ của bị cáo Tải Văn L:
- + Gói 01: Tinh thể (sau giám định) có khối lượng 0,4953 gam, được để trong túi niêm phong số: 38/2024/M ghi ngày 23/01/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành N1.
- + 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA, màu trắng; Model TA-1034: IMEI1 353408095511380; IMΕΙ 2 353407094089380; sim số: 0337411914. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914231.
- + 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu VIVO, màu vàng; IMEI1 867003035255252; IMEI 2 867003035255245; không sim. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914230.
-
Tạm giữ của bị cáo Trịnh Huy H1:
- + 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu REDMI 10C, màu xanh; sim 1 là 0907975300; sim 2 là 0396094228. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914233.
- + 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Dream Trung Quốc màu nâu; số máy VKVIP50FMG-R 304462; số khung VKVUCG 054H6304462; BKS: 52-P8-1461 đã qua sử dụng.
-
Tạm giữ của bị cáo Diệp Văn T1:
- + 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA, màu xanh; CODE:0592298; IMEI1 353454/04/951521/8; sim số: 0346856408. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914232.
Qua điều tra, xác định được địa điểm mà bị cáo L và bị cáo H1 đến mua ma túy là nơi ở của bà Đỗ Thúy Q, sinh ngày 02/02/1996, cư trú ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Tuy nhiên, qua điều tra, đối chất bà Q không thừa nhận đã bán ma túy cho bị cáo L, không xác định được người thanh niên giao ma túy cho bị cáo L tại nhà bà Q là ai, nên chưa đủ cơ sở xử lý bà Q về hành vi mua, bán trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-HS, ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố các bị cáo Tải Văn L, Trịnh Huy H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Diệp Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Tải Văn L, Trịnh Huy H1 và bị cáo Diệp Văn T1 thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý tổng khối lượng 0,5118 gam, loại Methamphetamine như cáo trạng đã truy tố là đúng. Các bị cáo không khiếu nại cáo trạng cũng không thay đổi lời khai của mình.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; vai trò, vị trí của từng bị cáo. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Tải Văn L, Trịnh Huy H1 và bị cáo Diệp Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Tải Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trịnh Huy H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Diệp Văn T1 từ 05 năm tù đến 06 năm tù.
Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu và tiêu huỷ ma túy sau giám định có khối lượng 0,4953 gam; đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước các điện thoại di động của các bị cáo và 01 (một) xe mô tô BKS: 52-P8-1461 đã qua sử dụng của bị cáo H1.
Về án phí đề nghị buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không phát biểu tự bào chữa:
Bị cáo Tải Văn L, Trịnh Huy H1 và bị cáo Diệp Văn T1 nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định vào ngày 18/01/2024, các bị cáo Tải Văn L, Diệp Văn T1 cùng nhau hùn tiền 700.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung với bị cáo Trịnh Huy H1, đến khoảng 19 giờ 45 phút ngày 18/01/2024, sau khi mua được ma túy, bị cáo Trịnh Huy H1 điều khiển xe mô tô chở bị cáo Tải Văn L trên hương lộ B, địa chỉ ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và tạm giữ trên người của bị cáo L đang tàng trữ 0,5118 gam ma túy, loại Methamphetamine. Các bị cáo Tải Văn L, Diệp Văn T1 và bị cáo Trịnh Huy H1 có lời khai việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhu trên nhằm mục đích sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo Tải Văn L, Diệp Văn T1 và bị cáo Trịnh Huy H1 là phù hợp với nhau, phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ là chất ma túy qua giám định có khối lượng 0,5118 gam ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo Tải Văn L, Diệp Văn T1 và bị cáo Trịnh Huy H1 đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, việc các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy sẽ gây ra hậu quả khôn lường như tạo ra nhiều người nghiện trong xã hội, dẫn tới người sử dụng mắc các bệnh về thần kinh, hô hấp, viêm gan, nhiễm HIV, dẫn đến tử vong khi bị sốc ma túy. Khi lên cơn nghiện thì gây ra cho người nghiện các ảo giác dẫn tới họ không kiểm soát được hành vi hậu quả có những hành vi phạm pháp, gây mất an toàn trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo Tải Văn L, bị cáo Trịnh Huy H1 đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với bị cáo Diệp Văn T1 tại bản án hình sự số 07/2021/HHST ngày 08/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh kết án bị cáo T1 10 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2022, đến ngày 18/01/2024 chưa được xóa án tích (trong bản án này đã áp dụng tình tiết tái phạm); do đó, lần phạm tội này, bị cáo Diệp Văn T1 đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Tội phạm bị cáo T1 là rất nghiêm trọng, tội phạm bị cáo L, bị cáo H1 thực hiện là nghiêm trọng. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân và của địa phương thì hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, nhằm để có đủ thời gian cho các bị cáo nhận thức được việc làm sai trái của mình mà lao động, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tươngtự.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo L và H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo L chỉ học đến lớp 2 nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Riêng bị cáo T1 đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho các bị cáo tương ứng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về vật chứng vụ án: Đối với chất ma túy thu giữ sau giám định cần phải tịch thu và tiêu huỷ. Đối với các điện thoại di động của 03 bị cáo, xe mô tô của bị cáo H1 đều là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần phải bị tịch thu và sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Tải Văn L và Trịnh Huy H1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Tải Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Diệp Văn T1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Diệp Văn T1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Việc xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ: Gói 01: Tinh thể (sau giám định) có khối lượng 0,4953 gam, được để trong túi niêm phong số: 38/2024/M ghi ngày 23/01/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành N1.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA, màu trắng; Model TA-1034: IMEI1 353408095511380; IMΕΙ 2 353407094089380; sim số: 0337411914. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914231.
- 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu VIVO, màu vàng; IMEI1 867003035255252; IMEI 2 867003035255245; không sim. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914230.
- 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu REDMI 10C, màu xanh; sim 1 là 0907975300; sim 2 là 0396094228. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914233.
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Dream Trung Quốc màu nâu; số máy VKVIP50FMG-R 304462; số khung VKVUCG 054H6304462; BKS: 52-P8-1461 đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA, màu xanh; CODE:0592298; IMEI1 353454/04/951521/8; sim số: 0346856408. Được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu: NS3; mã số: NS3 1914232.
Về án phí: Buộc các bị cáo Tải Văn L, Diệp Văn T1 và bị cáo Trịnh Huy H1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Tải Văn L, Diệp Văn T1 và bị cáo Trịnh Huy H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Ngô Thị Oanh Kiều |
Dương Văn Siêng |
Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tải văn lâm tàng trữ ma túy
