Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Châu Bích Phượng
  2. Ông Huỳnh Văn Phó

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trịnh Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Đen; Sinh năm 1988, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 21 tháng 01 năm 2022. Nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Con ông Trịnh Văn S1 và bà Lê Thị Thu T; Có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; Nhân thân: Ngày 20/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang quyết định “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” 12 tháng, theo quyết định số 124/2017/QĐ-TA. Chấp hành xong vào ngày 22/10/2018; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Ngày 14/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 120/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2022. Chưa được xóa án tích; Bị bắt tạm giữ từ

ngày 13/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 16/11/2023. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an, tỉnh Tiền Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng:

  1. Phạm Công T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: A khu phố T, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
  2. Trịnh văn Đ1, sinh năm 1935. Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiên Giang (vắng mặt).
  3. Phạm Nguyễn Hồng C, sinh năm 2002. Địa chỉ: B ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 05 phút, ngày 13/11/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân đối tượng Trịnh Văn Đ sống trong hộ ông Trịnh Văn D, sinh năm 1935, nơi thường trú Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang phối hợp Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra hộ ông Trịnh Văn D. Qua kiểm tra, phát hiện tại phòng ngủ của Trịnh Văn Đ có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 vỏ bao thuốc lá có in chữ “Khánh Hội” bên trong vỏ bao thuốc lá có một gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong gói ny lon có chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy. Tiến hành kiểm tra trên người của Đ phát hiện bên túi quần bên phải Đôn đang mặc có một gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy nên lực lượng Công an lập biên bản thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Theo lời khai của Trịnh Văn Đ vào ngày 12/11/2023, Đ lên mạng xã hội Facebook (không nhớ tên tài khoản) để đặt mua ma túy đá về sử dụng với số tiền là 1.200.000 đồng. Sau khi đã đặt mua ma túy xong thì ma túy giao về để trong một cái hộp bằng giấy thông qua xe khách (không nhớ tên, biển số xe khách và không nhớ mặt người giao), Đ nhận hàng gần khu vực Cầu R thuộc Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau khi nhận được ma túy, Đ đem về phòng ngủ mở

hộp giấy ra thì thấy có 02 gói ma túy, Đ lấy 01 gói cất giấu vào bao thuốc lá Khánh Hội và lấy một ít số ma túy trong gói còn lại đem ra sử dụng rồi cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc. Sau khi cất giấu số ma túy này, Đ định đi ra ngoài thì có Phạm Công T1, sinh năm 1984, nơi thường trú số A khu phố T, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và Phạm Nguyễn Hồng C, sinh năm 2002, nơi thường trú B ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang đến chơi thì lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang, chứng kiến sự việc.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 15 giờ ngày 13/11/2023 ghi nhận: Hướng Đông tiếp giáp đường nhựa công cộng; hướng Tây tiếp giáp vườn Huỳnh Thị Bé B; hướng Nam tiếp giáp nhà Trịnh Văn D và Nguyễn Thị K; hướng Bắc tiếp giáp kênh công cộng. Phòng ngủ Đôn có kích thướt (3,3×4,5)m nền lót gạch, cửa ra vào kim loại có kích thướt (1,2×02)m quay về hướng Tây, ký hiệu (A) trong sơ đồ. Từ cửa chính (A) đi về hướng Đông Bắc 2,8m là vị trí cái bàn có kích thướt (36×28×26)cm, trên bàn có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy ký hiệu (B) và 01 vỏ bao thuốc lá in chữ “Khánh Hội”, bên trong chứa 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có 01 gói nylon có 01 gói nylon màu trắng được hàn kín có chứa nhiều tinh thể màu trắng ký hiệu (C).

* Vật chứng, đồ vật được thu giữ:

  • - 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng, được niêm phong trong một bì thư, bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Trịnh Văn Đ, ký hiệu A1.
  • - 01 (một) gói nylon màu trắng, bên trong có 01 (một) gói ny lon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng, được niêm phong trong một bì thư, bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Trịnh Văn Đ, ký hiệu A2.
  • - 01 (một) vỏ bao thuốc lá có in chữ “Khánh Hội”.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

* Tại Bản kết luận giám định số 200/KL-KTHS ngày 15/11/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Gói 1 (ký hiệu A1): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,8030 gam, loại Methamphetamine.
  • - Gói 2 (ký hiệu A2): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5943 gam, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng giám định:

  • - Gói 1: Các mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định lý hiệu M1=1,7613 gam, được niêm phong trong (01) một bì thư ký hiệu vụ số 1: 200/1 ghi ngày 15/11/2023.
  • - Gói 2: Các mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định ký hiệu M2=0,5641 gam, được niêm phong trong (01) một bì thư lý hiệu vụ số 1: 200/2 ghi ngày 15/11/2023.

Như vậy, các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 2,3973 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSCT ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Đ từ năm đến năm tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 13/3/2023.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao thuốc lá có in chữ “Khánh Hội”; 01 (một) bộ D2 sử dụng ma túy đá; Số ma túy còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự, nhân chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo cho rằng do nghiện ma túy nên sau khi sử dụng còn lại một phần bị cáo đã cất giữ để sử dụng và sau đó bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, để thõa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy để sử dụng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, nó cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị buộc đi cai nghiện và chấp hành hình phạt tù về hành vi sử dụng chất ma túy nhưng vẫn không ăn năn hối cải nay lại có hành vi phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo là người có ý thức xem thường pháp luật và lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khoải xã hội một thời gian nhằm

giáo dục bị cáo trở thành người có ích trong xã hội và phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Đối tượng bị cáo cho rằng cung cấp ma túy cho bị cáo, hiện chưa cung cấp được thông tin cụ thể, nên chưa có cơ sở để xử lý.

[4] Về xử lý vật chứng: 01 (một) vỏ bao thuốc lá có in chữ “Khánh Hội”; 01 (một) bộ D2 sử dụng ma túy đá; Số ma túy còn lại sau giám định được chứa trong 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 200/1 ghi ngày 15 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Phương T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CỘNG AN TỈNH TIỀN GIANG và 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 200/2 ghi ngày 15 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Phương T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CỘNG AN TỈNH TIỀN GIANG cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về Hình phạt

  • - Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Trịnh Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/11/2023.

2. Về vật chứng:

  • - Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao thuốc lá có in chữ “Khánh Hội”; 01 (một) bộ D2 sử dụng ma túy đá; Số ma túy còn lại sau giám định được chứa trong 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 200/1 ghi ngày 15 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Phương T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CỘNG AN TỈNH TIỀN GIANG và 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số: 200/2 ghi ngày 15 tháng 11 năm 2023; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D1 (Trợ lí giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Phương T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CỘNG AN TỈNH TIỀN GIANG .

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024) .

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND h. Châu Thành;
  • - Công an h. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS h. Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger