|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2023/HS-ST Ngày: 16/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Xuân Tiến
Ông Lê Trung Thành.
-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh-Thẩm tra viên Toà án nhân dân
huyện Nam Trực.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/HSST-QĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đới H. Tên gọi khác là Đới Văn P; Sinh năm: 1976; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Con ông: Đới Mạnh C, sinh năm: 1957; Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1956. Có vợ là Vũ Thị T, sinh năm: 1979. Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005.
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Không.
- Nhân thân:
- + Ngày 26/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
- + Ngày 09/8/2016, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 12/10/2023 chuyển tạm giam cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phạm Đức T1; Sinh năm: 1952
Địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
(Tại phiên tòa, ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền để chi tiêu cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 8 giờ ngày 04/10/2023, bị cáo đi xe đạp dọc theo các tuyến đường để quan sát nhà dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đạp xe đến khu vực xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, lúc này bị cáo nhìn thấy ông Phạm Đức T1 là người quen của bị cáo đang tưới cây ở vườn. Thấy vậy, bị cáo vào nhà chào ông T1 sau đó ngồi ở phòng khách chơi thì nhìn thấy chiếc điện thoại Samsung A14 màu đen, có gắn thẻ sim số thuê bao 0961.692.858 để trên bàn uống nước, do ông T1 đang ở ngoài vườn nên bị cáo cầm điện thoại cất giấu vào túi quần rồi ra về. Sau khi lấy được điện thoại, bị cáo tháo thẻ sim ném xuống khu vực cầu C, xã N rồi mang đến cửa hàng mua bán điện thoại nhà anh Trần Văn B. Khi gặp anh B, bị cáo nói với anh B đây là điện thoại của bị cáo không có nhu cầu sử dụng nên bán cho anh B với 2.000.000 đồng. Khi xem điện thoại không có mật khẩu, anh B đồng ý mua. Số tiền bán điện thoại bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 04/10/2023, ông Phạm Đức T1 có đơn tố cáo hành vi trộm cắp tài sản của Bị cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N. Ngày 04/10/2023, anh Trần Văn B tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Samsung A14 màu đen cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N. Ngày 06/10/2023, bị cáo ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.
Bản kết luận định giá tài sản số 27/KLĐG ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung A14 màu đen có giá trị tại thời điểm xảy ra sự việc là 3.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đối với chiếc điện thoại Samsung A14 màu đen, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Đức T1. Ông T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu bồi thường dân sự và đề nghị xử lý bị can theo quy định của pháp luật.
Anh Trần Văn B không có yêu cầu đối với số tiền 2.000.000 đồng đã mua điện thoại của bị cáo.
Đối với thẻ sim số thuê bao 0961692858 Bị cáo đã ném xuống xuống khu vực cầu C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Ngày 12/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tổ chức truy tìm nhưng không thấy.
Bản cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đới Hồng P1 tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Đới Hồng P2 tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đới Hồng P3 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của bị hại, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 06/10/2023, Kết luận định giá tài sản số 27/KLĐG ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N...Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 8 giờ ngày 04/10/2023, tại nhà ở của gia đình ông Phạm Đức T1, lợi dụng sự sơ hở của ông T1, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Samsung A14 màu đen của ông Phạm Đức T1 có giá trị 3.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc lén lút lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an để đầu thú. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Đức T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự gì. Anh Trần Văn B không có yêu cầu đối với số tiền 2.000.000 đồng đã mua điện thoại của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[6]Đối với anh Trần Văn B khi mua chiếc điện thoại của Đới Hồng P3 không biết tài sản là do bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Đới Hồng P3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt Đới Hồng P3 01 (Một) năm tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 06/10/2023.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Đới Hồng P3 phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |
Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 56/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đới Hồng P - Trộm cắp tài sản
