Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/8/2024

“V/v: Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông Đỗ Văn Kha.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huê - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Tuyết H, sinh năm 1980,

- Bị đơn: Ông Hồ Chiến T, sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, các đương sự có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện ngày 20/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Đoàn Thị Tuyết H trình bày:

Bà H và ông Hồ Chiến T tự nguyện tìm hiểu và về chung sống với nhau, năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một đến hai năm đầu, sau đó ông T thường xuyên nhậu nhẹt về chửi bới, xúc phạm bà H, xúc phạm cha mẹ, anh chị em bên gia đình vợ. Nhiều lần bà H không thể chịu đựng được nên đã nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án, 02 lần trước ông T đã viết cam kết, hứa hẹn thay đổi, nên bà suy nghĩ vì gia đình nên đã rút đơn về đoàn tụ; gia đình hai bên cũng nhiều lần họp khuyên răn, ông T cũng hứa hẹn nhưng cuối cùng không thực hiện. Nay bà H cho rằng không thể tiếp tục

cuộc sống chung do không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 02 con chung là Hồ Đoàn Tuyết N, sinh ngày 14/01/2005 và Hồ Đoàn Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2008. Bà H yêu cầu được nuôi con Hồ Đoàn Tuyết N1, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Con lớn Hồ Đ đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Lời khai bị đơn ông Hồ Chiến T trình bày:

Ông T thống nhất lời khai của bà H về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn, tuy nhiên quá trình chung sống ông thấy vẫn hạnh phúc, duy chỉ có tật là sau khi nhậu về thì hay nói, chửi, nhưng thực chất là do say quá mới làm vậy xong khi tỉnh lại không nhớ gì. Ông có nghe những đoạn ghi âm do bà H ghi lại những lúc ông say xin chửi bới, biết vậy nhưng khi nhậu xin về lại không kìm chế được bản thân, không bỏ được tật xấu này. Nay ông vẫn còn thương vợ, con, không muốn gia đình tan vỡ nên không đồng ý ly hôn, mong muốn hòa giải về đoàn tụ gia đình và cam đoan sẽ sửa chữa, thay đổi bản thân để gia đình được hạnh phúc hơn.

Về con chung, thống nhất như trình bày của bà H có 02 người con chung, con lớn đã trưởng thành sống riêng, con nhỏ Hồ Đoàn Tuyết N1 hiện đang theo bà H sống bên ngoại nhà trọ nhiều tháng nay, do con đã gần trưởng thành nên có quyết định riêng, ông không có ý kiến can thiệp.

Về tài sản chung, vay, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Tuyết H, cho bà H được ly hôn với ông Hồ Chiến T. Giao con chung Hồ Đoàn Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con, con Hồ Đoàn Tuyết N đã trưởng thành nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; Án phí bà H phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do bà Đoàn Thị Tuyết H khởi kiện, bị đơn là ông Hồ Chiến T thường trú và sinh sống tại xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà H và bị đơn ông T đã có bản khai đầy đủ và xin xét xử vắng mặt là hợp lệ. Căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Tuyết H và ông Hồ Chiến T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 33, ngày 14/4/2004. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình xác định đây là hôn nhân hợp pháp, bà H có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông T là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án bà H cho rằng từ khi về sống chung với ông T năm 2004 đến nay chỉ hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu, những năm sau đó ông T không chăm lo cho gia đình, thường xuyên nhậu say về chửi bới, xúc phạm bà H, xúc phạm cha, mẹ, anh chị em bên gia đình bà. Mặc dù gia đình hai bên đã khuyên can nhiều lần và ông T hứa sửa chữa nhưng không thay đổi. Bị đơn ông T thừa nhận thường xuyên nhậu say la mắng vợ con, nhưng do những lúc say không kìm chế được bản thân, ông không đồng ý ly hôn, mong muốn đoàn tụ gia đình.

Xét tình trạng hôn nhân của bà H và ông T, cả hai vợ chồng đều thừa nhận có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay cãi vã nhau, bà H đã cho ông T thời gian, cơ hội sửa chữa nhiều lần nhưng ông không thay đổi. Ông T mong muốn gia đình đoàn tụ nên Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần cho hai bên có cơ hội hàn gắn, tuy nhiên bà H không đồng ý mà đề nghị được ly hôn. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và phải có sự đồng thuận từ hai phía, nhưng bà H kiên quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T và bà đã dọn ra ngoài sống riêng từ nhiều tháng nay. Do đó, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân của bà H và ông T không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài do mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, cho bà H được ly hôn với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của

Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Giữa bà H và ông T có 02 người con chung là Hồ Đoàn Tuyết N, sinh ngày 14/01/2005 và Hồ Đoàn Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2008. Do cháu N đã trưởng thành và không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét; cháu N1 có nguyện vọng được ở với bà H và ông T không có ý kiến tranh chấp về việc nuôi con nên chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu N1 cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, cho vay, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 4, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Đoàn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Hồ Chiến T (Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 14/4/2004 do Ủy ban nhân dân xã T, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Bình Phước cấp).
  2. Về con chung: Giao con Hồ Đoàn Tuyết N1, sinh ngày 19/9/2008 cho bà Đoàn Thị Tuyết H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

    Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm:Đoàn Thị Tuyết H phải nộp 300.000 đồng, được khấu vào trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001289 ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Bà H đã nộp đủ án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước.
  • TÒA
  • - VKSND TP Đồng Xoài;
  • - CC THA DS TP ĐX;
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Lê Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger