Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.

Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đào.

Bà Từ Thị Nga;

Ông Mai Văn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Văn K sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; trình độ văn hóa (học vấn): không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Trương Văn N và bà Trương Thị L; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị K1, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2019; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trương Văn K: Ông Phạm Thế P là Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn P1 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N1 sinh năm 1957; nơi cư trú: khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N1: Ông Nguyễn Hồng T sinh năm 1982; nơi cư trú: khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Đình Nguyên s năm 1960; nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Hồng T sinh năm 1982; vắng mặt.
  2. Ông Dương Văn L1 sinh năm 1981; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn K và ông Nguyễn Văn P1 thuê nhà trọ ở cùng với nhau tại ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương để đi nhổ củ mì thuê. Khoảng 07 giờ ngày 07/12/2020, K và P1 uống rượu tại phòng trọ thì hai bên xảy ra mâu thuẫn với nhau. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, K và P1 ngưng không uống rượu nữa nhưng tiếp tục cự cãi qua lại. Lúc này, ông P1 cầm 01 ổ cắm điện ném K nhưng không trúng, K dùng tay đánh 01 cái trúng vào tai của ông P1. Do bị K đánh nên ông P1 chạy đến trước thềm nhà cầm 02 vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh định chạy vào đánh K thì được ông Nguyễn Hồng T (là anh ruột P1) và ông Dương Văn L1 can ngăn nên K đi đến phía sau nhà lấy 02 rựa (loại dùng để chặt củ mì) cầm trên tay chạy đến để chém ông P1, thấy vậy ông P1 bỏ chạy đến hướng đường ĐT750 nhưng Khá vẫn cầm 02 rựa trên 02 tay đuổi theo để chém ông P1. Khi cả 02 chạy ra đến đường ĐT750 theo hướng từ ấp G, xã T đến UBND xã T, huyện P, lúc này ông P1 chạy trước, K cầm rựa chạy sau cách khoảng 02m, K vừa chạy vừa giơ rựa lên để định chém ông P1 còn ông P1 thì vừa chạy vừa quay đầu lại nói xin lỗi Khá. Khi ông P1 và K chạy sang phần đường dành cho các phương tiện đi ngược chiều thì ngay lúc này có xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50 do ông Võ Đình N2 điều khiển đang lưu thông theo hướng từ UBND xã T đến ấp G, xã T cũng vừa đi đến. Do K và P1 bất ngờ chạy băng qua đường nên ông N2 không kịp tránh dẫn đến đầu xe mô tô ba bánh đụng vào K và ông P1. Hậu quả xảy ra làm ông P1 tử vong tại chỗ, K bị thương nặng đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, xe môtô ba bánh hư hỏng nhẹ.

- Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra gồm:

01 (một) xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50, nhãn hiệu SANDISAD, số khung KZ1885000249, số máy 2FMJ88103194, màu xanh; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50 mang tên Võ Đình N2; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A3 số [...] mang tên Võ Đình N2, đây là tài sản hợp pháp của ông Võ Đình N2 nên đã trả cho ông N2.

02 (hai) rựa: 01 rựa dài 47,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 17,5cm, lưỡi cong bằng kim loại màu đen dài 30cm và 01 rựa dài 46,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 17,5cm, lưỡi cong bằng kim loại màu đen dài 29cm, xét thấy đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bản Kết luận Giám định pháp y tử thi số 1017A/GĐPY ngày 09/12/2020 của Phòng K2 Công an tỉnh B đối với bị hại ông Nguyễn Văn P1 kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Nhiều vết sây sát, rách da, bầm tụ máu trên cơ thể nạn nhân.
  • Gãy hai xương cổ tay phải, gãy hai xương cẳng chân trái đoạn 1/3 trên và 1/3 giữa, gãy nhiều xương sườn, vỡ xương mu phải.
  • Dập rách hai phổi.
  • Dập tim.
  • Dập rách mạch máu, thần kinh bẹn đùi phải.

Nguyên nhân chết: choáng đa chấn thương, chấn thương ngực - bụng, dập rách hai phổi, dập tim.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị cáo Trương Văn K đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền chi phí mai táng là 40.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị N1 là đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Ông Võ Đình N2 đã hỗ trợ gia đình bị hại Nguyễn Văn P1 số tiền 10.000.000 đồng và gia đình bị hại P1 nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSBD.P2 ngày 19 tháng 02 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trương Văn K về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn K từ 12 (mười hai) đến 13 (mười ba) tù.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày nội dung bào chữa: không thống nhất quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, hành vi của bị cáo không phạm tội “Giết người” như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, xét hành vi của bị cáo phù hợp với tội danh “Đe dọa giết người” theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như không có học vấn nên nhận thức kém, bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường xong cho gia đình bị hại; gia đình bị cáo khó khăn, có vợ và 03 con còn nhỏ, bị cáo đang bị thương tích phải điều trị. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo. Ngoài ra, quá trình

điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh xe mô tô ba bánh của ông Võ Đình N2 còn kiểm định hay không, trường hợp nếu không có kiểm định mà tham gia giao thông gây tai nạn thì tùy từng trường hợp có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc uống rượu, mặc dù đã được can ngăn nhưng bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm, 02 tay cầm 02 rựa đuổi chém bị hại, bị cáo ý thức được việc dùng rựa chém bị hại là nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Hành vi bị cáo dùng hung khí nguy hiểm truy đuổi hậu quả bị hại chết, mặc dù bị hại chết không phải do bị cáo trực tiếp gây ra, đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Đối với xe mô tô ba bánh của ông Võ Đình N2 còn kiểm định hay không không ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của bị cáo, trường hợp hết kiểm định nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm sẽ được xử lý trong vụ án khác.

Bị cáo Trương Văn K không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về chăm sóc gia đình, con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/12/2020, tại ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trương Văn K đã có hành vi cầm 02 rựa truy đuổi chém bị hại Nguyễn Văn P1 trên đoạn đường ĐT 750 là nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện dẫn đến bị hại P1 trên đường bỏ chạy va chạm vào xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50 do ông Võ Đình N2 điều khiển đang lưu thông theo hướng từ UBND xã T đến ấp G, xã T đi đến làm ông P1 tử vong tại chỗ, bị cáo K bị thương tích.

Hành vi của bị cáo Trương Văn K sử dụng 02 rựa, là hung khí nguy hiểm truy đuổi chém bị hại Nguyễn Văn P1 trên đoạn đường ĐT750 là nguy hiểm. Bị hại Nguyễn Văn P1 sau khi bị đánh, lại bị bị cáo dùng rựa truy đuổi làm bị hại lo sợ bị chém nên chạy sang phần đường dành cho các phương tiện đi ngược chiều trên đường giao thông có mật độ giao thông lớn, có khả năng gây tai nạn nguy hiểm dẫn đến chết người. Bị cáo buộc phải nhận thức được điều đó, nhưng vẫn tiếp tục đuổi theo ông P1 cách khoảng 02 mét, vừa chạy vừa giơ rựa lên để chém ông P1 còn ông P1 thì vừa chạy vừa quay đầu lại nói xin lỗi Khá nên cả hai va chạm với xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50 do ông Võ Đình N2 điều khiển đang lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả ông P1 chết, bị cáo bị thương. Với hành vi nguy hiểm nêu trên, có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của bị cáo là rất quyết liệt, bất chấp hậu quả chết người xảy ra và thực tế là ông P1 đã chết.

Theo Án lệ số 59/2023/AL về lỗi cố ý gián tiếp trong vụ án “Giết người” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo 02 tay cầm 02 rựa rượt đuổi bị hại làm bị hại lo sợ bị chém nên bỏ chạy dẫn đến bị hại bị tai nạn tử vong tại hiện trường, bị cáo bị thương tích. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với lỗi cố ý gián tiếp.

Hành vi của bị cáo Trương Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo phạm tội với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi dùng rựa là hung khí nguy hiểm truy đuổi, dọa chém bị hại là trái pháp luật và có khả năng tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện bản tính côn đồ, ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại; đại diện bị hại có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo

không được đi học, hiện đang bị thương tích, có vợ và 03 con nhỏ nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, Điều luật, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp. Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc.

[7] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận một phần về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường xong, đại diện bị hại không yêu cầu.

[9] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

01 xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50, nhãn hiệu SANDISAD, số khung KZ1885000249, số máy 2FMJ88103194, màu xanh; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô ba bánh biển số 61F1-401.50 mang tên Võ Đình N2; 01 giấy phép lái xe hạng A3 số [...] mang tên Võ Đình N2 đây là tài sản hợp pháp của ông Võ Đình N2 nên đã trả cho ông N2.

02 rựa (01 rựa dài 47,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 17,5cm, lưỡi cong bằng kim loại màu đen dài 30cm và 01 rựa dài 46,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 17,5cm, lưỡi cong bằng kim loại màu đen dài 29cm) xét thấy đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: bị cáo Trương Văn K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn K phạm tội “Giết người”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Văn K 10 (mười) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 rựa dài 47,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 17,5cm, lưỡi cong bằng kim loại màu đen dài 30cm và 01 rựa dài 46,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 17,5cm, lưỡi cong bằng kim loại màu đen dài 29cm.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 12 năm 2023).

5. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trương Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng (5);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án (3);
  • - Tổ Hành chính tư pháp (4);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HTHT, 21.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Chum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về hình sự sơ thẩm về tội giết người

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn K phạm tội Giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger