Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 15/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thuần và bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/HSST-QĐ ngày 11/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị T, sinh ngày 17/9/1990; Nơi sinh và cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H, con bà Đào Thị H1; Chồng: Lê Văn V, con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).

  • * Bị hại: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1988 (đã chết).
  • * Người đại diện hợp pháp của bị hại:
    • - Ông Lê Xuân N, sinh năm 1948. Vắng mặt
    • - Bà Trịnh Thị V1, sinh năm 1952. Vắng mặt
    • - Bà Phạm Thị D, sinh năm 1990. Vắng mặt
    • - Cháu Lê Minh C, sinh năm 2011. Vắng mặt
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1979. (Văn bản ủy quyền ngày 14/9/2023). Vắng mặt
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt
  • - Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1990; địa chỉ: TDP T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/9/2023, Lê Thị T một mình điều khiển xe ô tô BKS 29U-8097 thu mua hàng phế liệu trên địa bàn thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và xếp hàng vào xưởng nhà T tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô BKS 29U-8097 đỗ dưới lòng đường trên đoạn đường liên huyện trước nhà T, khi này đầu xe hướng về xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đuôi xe hướng về thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đỗ xe T không đặt biển cảnh báo phía trước, phía sau xe và đỗ xe chiếm một phần làn đường. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày (lúc này trời đang mưa, mặt đường ẩm ướt) anh Lê Văn T1 điều khiển xe mô tô BKS 88L1-346.30 đi theo hướng từ thị trấn T về xã V. Khi đến địa phận thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, anh T1 điều khiển xe mô tô với tốc độ nhanh, khi phát hiện xe ô tô BKS 29U-8097 đỗ trên đường phía trước bên phải theo chiều đi của mình thì anh T1 có phanh xe nhưng xe mô tô do anh T1 điều khiển vẫn đâm vào đuôi phía sau bên trái chiếc xe ô tô BKS 29U-8097 rồi văng về phía trước bên trái theo chiều đi, còn anh T1 và mũ bảo hiểm ngã văng ra đường. Cùng lúc này xe ô tô BKS 88A-590.86 do Nguyễn Văn T2 điều khiển đi theo hướng ngược lại dừng lại ngay trước vị trí anh T1 đang nằm trên đường. Hậu quả: Anh T1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh V. Đến ngày 10/9/2023 thì tử vong; các phương tiện bị hư hỏng.

Sau khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các cơ quan chức năng của huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm phương tiện tai nạn theo quy định.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 110/KLGĐTT-PYVP ngày 10/9/2023, của trung tâm P - Sở Y kết luận nguyên nhân tử vong của anh Lê Văn T1: Đa chấn thương nặng (ít khối sưng nề, nhiều vệt sây sát và bào da; Chấn thương sọ não: Vỡ lún xương hộp sọ vùng đỉnh. Chấn thương cột sống cổ: Gãy dời kín các đốt sống cổ số 2, 3).

* Kết quả đo, giám định nồng độ cồn, ma túy:

Ngày 09/9/2023, xét nghiệm chất ma túy trong máu của Lê Văn T1, kết quả: Âm tính; kết quả xết nghiệm nồng độ cồn là 0,7mmol/L (tương đương 3,23mg/100ml). Cùng ngày 09/9/2023, kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Lê Thị T và Nguyễn Văn T2, kết quả là 0,00mg/100ml; kết quả xét nghiệm ma tuý trong nước tiều của Lê Thị T và Nguyễn Văn T2, kết quả: Âm tính.

Tại Cáo trạng số 49/CT-VKS, ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Lê Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị xác nhận việc bồi thường và xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo không bào chữa gì và nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lê Thị T có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 23/5/2022, có giá trị đến ngày 23/5/2032. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 09/9/2023, T đỗ xe ô tô BKS 29U – 8097 chiếm một phần đường trước cửa nhà mình tại đường L thôn Đ, xã Y, huyện Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo chiều hướng từ thị trấn T, huyện Y về xã V, huyện V. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh Lê Văn T1 điều khiển xe mô tô BKS 88L1 - 346.30 có nồng độ cồn trong người, đi theo hướng cùng chiều, do xe của T chiếm một phần đường nên anh T1 không làm chủ được tốc độ đã đâm vào phía sau bên trái đuôi xe ô tô. Hậu quả: Anh T1 tử vong; các phương tiện bị hư hỏng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Lê Thị T khi tham gia giao thông đã vi phạm vào điểm d khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ, cụ thể:

“Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ

3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a)...

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;”.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, nội dung điều luật quy định :

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người...”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, người đại diện của gia đình người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này, hậu quả xảy ra có một phần do lỗi của người bị hại, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Như vậy, cũng đủ để răn đe đối với bị cáo đồng thời tạo cơ hội cho bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, sau khi xảy ra tai nạn đã tích cực khắc phục hậu quả nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng:

  • - 01 xe mô tô BKS: 88L1-346.30, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, màu sơn trắng đỏ, đã cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn T1. Ngày 24/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Hoàng S. Nhận lại tài sản ông S không có yêu cầu, đề nghị gì.
  • - 01 xe ô tô BKS: 29U-8097, nhãn hiệu HYUNDAI, loại xe MIGHTY, màu sơn xanh, đã cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của Lê Thị T. Ngày 24/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho T. Nhận lại tài sản T không có yêu cầu, đề nghị gì.
  • - 01 xe ô tô BKS: 88A-590.86, nhãn hiệu MITSUBISHI, loại xe Xpander GLP, màu sơn đỏ, đã cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn N1. Ngày 19/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho anh N1. Nhận tài sản, anh N1 không có yêu cầu, đề nghị gì.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Lê Thị T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000đ, đại diện gia đình bị hại là anh Nguyễn Hồng S1 đã nhận đủ và không có yêu cầu đề nghị gì, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về các vấn đề khác: Nguyên nhân để xảy ra vụ tai nạn giao thông nêu trên có một phần lỗi của anh Lê Văn T1 là điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi có nồng độ cồn trong máu là 0,7mmol/L, không làm chủ tốc độ dẫn đến xe mô tô do T1 điều khiển đâm vào đuôi phía sau bên trái xe ô tô BKS: 29U-8097 dẫn đến việc anh T1 bị tử vong. Do vậy, hành vi của Lê Văn T1 đã vi phạm khoản 1 và khoản 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Sau tai nạn giao thông, anh Lê Văn T1 đã chết nên không đặt vấn đề xử lý.

Đối với Nguyễn Văn T2 là người trực tiếp điều khiển xe ô tô BKS: 88A-590.86 không có lỗi để xảy ra tai nạn giao thông nên không đặt vấn đề xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Thị T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị T cho UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Thị T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện Yên Lạc;
  • - UBND xã Yên Đồng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T đỗ xe không đúng quy định gây tai nạn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger