|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-7-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Cao Tản .
Ông Vũ Viết Thiệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987.
Nơi thường trú: Khu C, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
-
- Bị đơn: Anh Mai Văn T1, sinh năm 1987.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Hiện trú tại: Ma Cao.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Mai Văn T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, cả hai bất đồng quan điểm sống. Năm 2013 anh T1 xuất khẩu lao động tại Ma Cao, năm 2015 chị sang Ma Cao để hàn gắn quan hệ nhưng không có kết quả nên năm 2018 trở về Việt Nam sinh sống. Khoảng cách xa xôi, anh chị không giữ liên lạc, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc chị T làm đơn khởi kiện ly hôn anh T1.
- Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Mai Hương T2, sinh ngày 12/11/2013 và Mai Anh Đ, sinh ngày 12/8/2018. Hiện cháu T2 và cháu Đ đang sống cùng chị, ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã gửi đơn khởi kiện của chị T tài liệu kèm theo và văn bản tố tụng cho anh Mai Văn T1 thông qua bố đẻ là ông Mai Văn C và em ruột là anh Mai Đức T3. Ông C, anh T3 cam kết thông báo ngay cho anh T1, đồng thời trình bày anh T1 đã biết việc chị T gửi đơn khởi kiện, vì điều kiện công việc anh T1 không thể đến Tòa án làm việc. Anh T1 đồng ý ly hôn do không còn tình cảm với chị T và xác nhận có 02 con chung hiện sống cùng mẹ như chị T trình bày. Anh T1 đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung theo qui định của pháp luật, ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề khác.
* Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Mai Hương T2 về nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn. Cháu T2 trình bày hiện đang sống mẹ, được mẹ chăm sóc từ nhỏ. Nay bố mẹ ly hôn, cháu muốn được tiếp tục sống cùng chị T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Mai Văn T1. Về con chung: Giao hai cháu Mai Hương T2 sinh ngày 12/11/2013 và cháu Mai Anh Đ sinh ngày 12/8/2018 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Mai Văn T1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã H, huyện H hiện sinh sống tại: Ma Cao. Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T1, căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc giải quyết tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
Chị T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Tòa án đã tống đạt giấy báo phiên tòa cho anh T1 thông qua người thân nhưng anh T1 hai lần vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh T1.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Mai Văn T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, mặc dù nhiều lần hàn gắn nhưng không tiến triển. Chị T trình bày mâu thuẫn hai bên ngày càng trầm trọng, cả hai không còn liên lạc, không còn quan tâm tới nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Thông qua người thân cung cấp thông tin, anh T1 đồng ý ly hôn do không còn tình cảm với chị T. Xét thấy tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị T anh T1 có 02 con chung là Mai Hương T2 sinh ngày 12/11/2013 và Mai Anh Đ sinh ngày 12/8/2018, hai cháu đang sống cùng mẹ, ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao cho chị tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc hai con và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng con chung. Anh T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật. Cháu Đ hiện nay dưới 07 tuổi đang sống cùng mẹ, cháu T2 trình bày nguyện vọng được sống với chị T nếu bố mẹ ly hôn. Trên cơ sở xem xét nguyện vọng của các bên và xét điều kiện hoàn cảnh nuôi dưỡng, HĐXX thấy việc giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là hoàn toàn phù hợp. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, anh T1 không có văn bản yêu cầu giải quyết về tài sản, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Mai Văn T1.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Mai Hương T2 sinh ngày 12/11/2013 và cháu Mai Anh Đ sinh ngày 12/8/2018 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc.
- Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0004341 ngày 26/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, anh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
