Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 14-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Bình;

Ông Nguyễn Duy Viên.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1966 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Vũ Thị X; có vợ là Bùi Thị N, sinh năm 1970 và 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1998; tiền sự, tiền án: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2024 đến nay, có mặt;

- Bị hại: Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Trịnh Văn P, sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 17/02/2024, Phạm Văn H có giấy phép lái xe hạng D, điều khiển xe ô tô loại 05 chỗ ngồi biển kiểm soát 15A-107.39 đi trên đường B theo hướng từ xã V đi Cầu M với tốc độ khoảng 40km/h (theo lời khai của H). Khi đi đến khu vực thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, H phát hiện phía trước cách xe ô tô do H điều khiển khoảng 03m có 01 người phụ nữ (sau này xác định được là bà Trịnh Thị Đ) đang dong xe đạp mi ni màu xanh đi phía trước cùng chiều. Do không giữ khoảng cách an toàn và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần cản trước bên phải xe ô tô đã đâm va vào chắn bùn bánh sau xe đạp của bà Đ, làm bà Đ ngã đập đầu xuống đường và xe đạp văng ra mép đường bên phải. Bà Đ được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H1, đến ngày 04/3/2024 thì tử vong.

Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và xét nghiệm ma túy đối với Phạm Văn H, kết quả hơi thở không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 64/KLGĐTT-TTPΥΤΡΗΡ, ngày 01/4/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố H, kết luận: “Nạn nhân Trịnh Thị Đ, sinh năm 1964 chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do chấn thương sọ não nặng".

Tại biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường: Xác định vụ tai nạn xảy ra trên đường 212, đoạn đường thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T. Đường rộng 10,5m, trải nhựa, chia thành 02 chiều đường xe chạy, có vạch kẻ sơn màu trắng đứt đoạn. Lấy mép đường bên phải theo chiều xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39 đi làm chuẩn. T trục bánh trước, bánh sau bên phải xe ô tô này cách mép đường chuẩn lần lượt là 2,6m. Xe đạp mini màu xanh đổ nghiêng bên phải, có tâm trục bánh trước và sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 0,3m và 0,4m.

Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39 có các dấu vết: mặt ngoài góc phải cản trước xuất hiện vết trầy xước, làm mất sơn màu đen, chiều từ trái qua phải.. có bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn), tâm vết xước cách đất 45cm.

Tại biên bản khám xe đạp mini có các dấu vết: toàn bộ phía sau bánh xe bị biến dạng, cong vênh. Chắn bùn phía sau bị cong vênh, móp méo vặn sang bên trái.

Tại bản Kết luận giám định số 736/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của Phòng K và phiếu trả lời xác minh phương tiện của Công an huyện T, kết luận: “Xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39 có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hay sửa chữa các ký tự. Chủ xe là Phạm Văn H, sinh năm 1966 ở thôn A, xã T, huyện T".

Tại bản Kết luận giám định số 878/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Dấu vết bong tróc, trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu xanh (dạnh sơn) theo chiều từ trước về sau tại bên phải cản trước trên xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39 (ảnh 5,6: bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết cong vênh, móp méo, xô lệch kim loại mặt ngoài trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ phải sang trái, từ sau về trước tại chắn bùn bánh sau xe đạp (ảnh 11, 12: bản ảnh giám định). Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô mang biển kiểm soát 15A-107.39 tại thời điểm trước khi xảy ra va chạm.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-ĐG ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “Xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39 bị thiệt hại 4.300.000 đồng. Xe đạp mini màu xanh bị thiệt hại là 115.000 đồng”.

Tại Cá o trạng số 60/CT-VKS ngày 23/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố Phạm Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H đều khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, ông Trịnh Văn P trình bày: Ngày 17/02/2024, gia đình ông nhận được tin bà Trịnh Thị Đ bị tai nạn giao thông ở đường B đoạn đi qua thôn Đ, xã T, huyện T. Bà Đ bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H1 từ ngày 17/02/2024 đến ngày 04/3/2024 thì tử vong. Sau vụ tai nạn, Phạm Văn H đã bồi thường cho gia đình ông 200.000.000 đồng; gia đình ông đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H. Nay, ông không có yêu cầu gì khác.

Kiểm sát viên khẳng định: Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 23/8/2024, truy tố Phạm Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt Phạm Văn H từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội lần đầu nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Phạm Văn H 01 Giấy phép lái xe hạng D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Người đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, nhưng có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, người đại diện hợp pháp của bị hại đã có lời khai ở Cơ quan điều tra; mặt khác, bị cáo cũng đã bồi thường đầy đủ thiệt hại dân sự theo yêu cầu của gia đình bị hại. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại.

[3] Về tội danh và hình phạt: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn H là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan và các kết luận giám định, định giá tài sản, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/02/2024, Phạm Văn H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39 tham gia giao thông trên đường B hướng từ xã V đi cầu M, khi đi qua địa phận thôn Đ, xã T, huyện T. Do H điều khiển xe ô tô không giữ khoảng cách an toàn và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ trưởng Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm va vào chắn bùn bánh sau xe đạp do bà Trịnh Thị Đ đang dong bộ phía trước cùng chiều, làm bà Đ tử vong và gây thiệt hại đối với xe đạp là 115.000 đồng. Hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ của H làm chết 01 người và còn thiệt hại về tài sản. Vì vậy, H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

[4] Bị cáo Phạm Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do lỗi vô ý, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu; không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường đầy đủ thiệt hại dân sự theo yêu cầu của gia đình bị hại; bị cáo được người đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo đã hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[6] Căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cho rằng, bị cáo phạm tội lần đầu do lỗi vô ý, nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, nên xử phạt bị cáo hình phạt ở mức khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị và áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, để bị cáo có có hội cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn H đã bồi thường 200.000.000 đồng cho gia đình bị hại, đến nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác, nên không đặt giải quyết.

[9] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ và trả lại Phạm Văn H 01 xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39, 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của xe ô tô biển kiểm soát 15A-107.39. Trả lại 01 xe đạp mini cho đại diện gia đình bị hại. Hiện nay, còn tạm giữ 01 Giấy phép lái xe hạng D mang tên Phạm Văn H. Xét thấy, H không bị áp dụng hình phạt bổ sung, nên căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho H giấy phép lái xe trên là phù hợp.

[10] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án,

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 36 Luật Xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam: Tạm hoãn xuất cảnh đối với Phạm Văn H trong thời gian thử thách.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Phạm Văn H, tại Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 52/2024/HSST-QĐ ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

  1. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Phạm Văn H 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng D mang tên Phạm Văn H, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
  2. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, thông báo.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger