|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST
Ngày 14-8-2024
V/v “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hải.
- Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 284/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị Như Q, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số B, khóm V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Trần Minh T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Tổ B, khóm D, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị Q vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn là Trần Thị Như Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh T kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 21/3/2022.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Mặc dù đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Trần Thị Như Q yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T.
Về con chung: Chị Q và anh T có 01 con chung tên Trần Thị Anh T1, sinh ngày 16/10/2021. Hiện con chung đang sống với chị Q. Sau khi ly hôn, chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là Trần Minh T: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Trần Minh T vẫn vắng mặt, không rõ lý do và đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn là Trần Thị Như Q yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T và yêu cầu được nuôi con chung nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là Trần Minh T có nơi cư trú tại tổ B, khóm D, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt không rõ lý do và không gửi, nộp văn bản ý kiến cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Q và anh T kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 21/03/2022 là hôn nhân hợp pháp.
Theo khoản 1 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định như sau:
“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng
1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình."
Chị Q trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Mặc dù đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Trần Thị Như Q yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T.
Quá trình tố tụng và đơn xin xét xử vắng mặt, chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T.
Bị đơn là Trần Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Trần Minh T vẫn vắng mặt không rõ lý do và không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thể hiện rõ nội dung vụ việc và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện cho phía bị đơn. Tuy nhiên phía bị đơn không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không có ý kiến phản bác, yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác liên quan đến yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
Xét thấy, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, không tôn trọng nhau, không giúp đỡ nhau; chị Q và anh T đã ly thân không sống chung từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay và tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được và Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần để tiến hành hòa giải, tham gia phiên tòa để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T vẫn vắng mặt, vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau và chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T. Xét, hôn nhân giữa chị Q và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chị Q yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh T là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Chị Q và anh T có 01 con chung tên Trần Thị Anh T1, sinh ngày 16/10/2021. Hiện con chung đang sống với chị Q. Sau khi ly hôn, chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, con chung đang sống với chị Q đã ổn định từ tháng 02/2024 đến nay và con chung là Trần Thị Anh T1, sinh ngày 16/10/2021, hiện con chung dưới 36 tháng tuổi.
Theo Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định như sau:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”.
Theo quy định nêu trên, để đảm bảo điều kiện sống tốt nhất về mọi mặt của con chung nên cần thiết giao con chung là Trần Thị Anh T1 cho chị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Anh T1 là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung:
Không yêu cầu nên không xem xét.
[2.4] Về nợ chung:
Không yêu cầu nên không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Trần Thị Như Q phải chịu án phí về hôn nhân theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Trần Minh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Như Q.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Như Q được ly hôn với anh Trần Minh T.
2. Về con chung:
Chị Trần Thị Như Q được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Thị Anh T1, sinh ngày 16/10/2021, hiện con chung đang sống với chị Q.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.
3. Về tài sản chung:
Không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về nợ chung:
Không yêu cầu nên không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Trần Thị Như Q phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012452, ngày 11/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Như vậy chị Trần Thị Như Q đã nộp xong án phí về hôn nhân.
Anh Trần Minh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con
