|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14 – 6 – 2024. “Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc Hữu và bà Bùi Thị Luyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLST–HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2014/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị Phượng H, sinh năm 2000.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1992.
Cùng nơi cư trú: Xóm C, Thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
(Các đương sự đều vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phượng H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn chị H và bị đơn anh Nguyễn Văn B tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào ngày 12/3/2020. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn; do không hợp tính nhau nên không có tiếng nói chung, không hòa thuận và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày; anh B không quan tâm gia đình, không chăm lo làm việc mà thường xuyên uống rượu say rồi gây gỗ, chửi mắng, đánh đập chị H; chị H đã bỏ đi nơi khác sinh sống từ tháng 09/2023 và vợ chồng không còn chung sống cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị H yêu cầu giải quyết ly hôn.
- - Về con chung: nguyên đơn chị H và bị đơn anh B có 01 người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017. Chị H yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung này cho đến khi thành niên và không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị H không có yêu cầu nào khác trong vụ án.
[2]. Theo lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:
Anh B, chị H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016 nhưng đến năm 2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau về các vấn đề trong cuộc sống. Khoảng tháng 09-10/2023, chị H đi nơi khác làm ăn, sinh sống và vợ chồng không còn sống chung cho đến nay, không còn liên lạc với nhau. Hiện nay anh B vẫn còn tình cảm với chị H nên anh B không chấp nhận ly hôn.
- - Về con chung: nguyên đơn chị H và bị đơn anh B có 01 người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017. Nếu ly hôn, anh B yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung này cho đến khi thành niên và không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
- - Về cấp dưỡng: không yêu cầu.
- - Về tài sản chung và nợ chung: anh B không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh B không có yêu cầu nào khác trong vụ án.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 13/02/2020 (Bản sao, chứng thực ngày 01/03/2024) và 01 Giấy khai sinh số 68, ngày 16/03/2020 (Bản sai, chứng thực ngày 01/03/2024) của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận về quan hệ hôn nhân, tình trạng hôn nhận của vợ chồng chị H, anh B và lập Biên bản xác minh ngày 16/05/2024.
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Phượng H; xử cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B; giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017 cho đến khi thành niên; buộc chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phượng H và bị đơn anh Nguyễn Văn B vắng mặt nhưng đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phượng H, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phượng H về việc giải quyết ly hôn; Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 13/02/2020 (Bản sao, chứng thực ngày 01/03/2024) của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị H đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp, thống nhất của các đương sự; có đủ cơ sở xác định được: nguyên đơn chị H và bị đơn anh B tự nguyện kết hôn, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh B là hợp pháp. Vì vậy, chị H có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị H và bị đơn anh B đều thừa nhận: Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ, cải nhau về các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày và vợ chồng cũng đã không còn chung sống từ tháng 09/2023 cho đến nay, không còn quan tâm hay liên lạc với nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 16/05/2024, ông Huỳnh Văn H1 (là cha của nguyên đơn chị H) cũng đã cung cấp thông tin: Quá trình chung sống, chị H và anh B đều không có công việc và không có thu nhập ổn định; từ đó vợ chồng thường xuyên cải nhau về các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày; từ tháng 09/2023, chị H đã đi thành phố Hồ Chí Minh làm việc, sinh sống và chị H, anh B không còn sống chung cho đến nay. Hơn nữa, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã thực hiện thủ tục hòa giải nhưng chị H cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ, còn anh B vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được; điều này cho thấy chị H, anh B đều không có nguyện vọng đoàn tụ.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị H, anh B đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận; theo đó cần xử cho chị H được ly hôn với anh B.
[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Phượng H về việc giải quyết giao người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017 cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 68, ngày 16/03/2020 (Bản sai, chứng thực ngày 01/03/2024) của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị H đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp, thống nhất của các đương sự; có đủ cơ sở xác định được: chị H, anh B có 01 người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017. Qua thông tin tại Biên bản xác minh ngày 16/05/2024 thể hiện: cháu T chung sống với nguyên đơn chị H từ khi chị H và bị đơn anh B không còn chung sống cho đến nay; tuy nhiên do chị H phải đi làm việc ở xa nên chị H gửi cho cha mẹ ruột là vợ chồng ông Huỳnh Văn H1 trông nom, chăm sóc, chị H chu cấp chi phí nuôi dưỡng và cũng thường xuyên về thăm nom, chăm sóc cháu T; cháu T được chăm sóc, học hành đầy đủ, phát triển tốt về mọi mặt; hiện nay chị H đang làm công nhân tại thành phố Hồ chí Minh; anh B không có nghề nghiệp ổn định, chỉ đi làm thuê theo thời vụ, không có thu nhập ổn định.
Xét thấy: cháu Nguyễn Văn T đã sống với chị H và gia đình chị H từ khi vợ chồng không còn sống chung cho đến nay; đã gần gũi, quen thuộc, ổn định với nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, môi trường giáo dục và cuộc sống với Chị Á cùng gia đình chị H; quá trình sống với chị H cùng gia đình chị H, cháu T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, phát triển tốt về mọi mặt; chị H có công việc, thu nhập, nhà ở ổn định, đảm bảo nuôi dưỡng 01 người con chưa thành niên được phát triển bình thường. Do đó, yêu cầu của chị H về việc nuôi con là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận. Vì vậy cần xử giao cho chị H có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017 cho đến khi thành niên; anh Nguyễn Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
[3.3]. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4]. Về án phí: cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử buộc chị Huỳnh Thị Phượng H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 điều 147, các Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Phượng H:
Về việc ly hôn: chị Huỳnh Thị Phượng H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về việc nuôi con: Giao cho chị Huỳnh Thị Phượng H có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/9/2017 cho đến khi thành niên. Anh Nguyễn Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp các đương sự có thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[2]. Về án phí: buộc chị Huỳnh Thị Phượng H phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005736, ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Huỳnh Thị Phượng H đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Phượng H ly hôn Nguyễn Văn B
