|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày 14/5/2024 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mộng Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiến
Bà Huỳnh Thị Bích Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Hoàng Long – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: ấp B, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre.
-
* Bị đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Nguyên đơn chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh H vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Chị và anh Trần Hữu H cưới nhau vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M vào ngày 02/01/2020. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 con chung là Trần Nguyễn Nghi Đ, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2021. Đến cuối năm 2022 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẩn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắng được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hữu H.
Về con chung: có 01 con chung là Trần Nguyễn Nghi Đ, sinh ngày 27/10/2021, hiện đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị xin nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Đối với bị đơn Trần Hữu H, Tòa án có tống đạt các thông báo cho anh Trần Hữu H tham gia hòa giải, giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh Trần Hữu H đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của Trần Hữu H và vụ án không tiến hành hòa giải được.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyễn Thị Kim T đối với anh Trần Hữu H. Về con chung: có 01 con chung là Trần Nguyễn Nghi Đ, sinh ngày 27/10/2021, hiện đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị xin nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp pháp luật nên đề nghị để con chung cho chị T nuôi dưỡng, ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim T và anh Trần Hữu H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 02/01/2020 nên là hôn nhân hợp pháp. Đến cuối năm 2022 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẩn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắng được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hữu H. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã mời anh H nhiều lần đến Tòa tham gia hòa giải nhưng anh H không đến Tòa án để hòa giải giải quyết hay có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị T. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị T và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Trong quá trình chung sống với nhau, anh chị có 01 con chung là Trần Nguyễn Nghi Đ, sinh ngày 27/10/2021, hiện đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị xin nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ phù hợp với điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét .
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nguyên đơn chị T phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T đối với anh Trần Hữu H
-
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Nguyễn Nghi Đ, sinh ngày 27/10/2021. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Hữu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
-
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị T phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000223 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Chị T đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Mộng Tuyền |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Xuân Trường |
Trịnh Thị Hồng Thắm |
Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
