|
TOÀ ÁN NHÂN Q TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-PT Ngày 13 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN Q TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và ông Nguyễn Xuân Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân Q tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân Q tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân Q tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 45/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Q huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 04 tháng 3 năm 1990 tại xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; Q tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định; con bà Nguyễn Thị P; có vợ là Kim Thị S (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2023 đến nay, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Quyết Tiến – Bộ Công an, “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Ngân hàng TMCP D.
Địa chỉ: Tòa nhà Sailing Tower, số 111A Pasteur, phường B, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Hoàng H – Giám đốc Trung tâm Quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ 2, Khối Ngân hàng bán lẻ.
Người đại diện ủy quyền lại: Ông Chu Văn T – Cán bộ Ngân hàng TMCP D (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/10/2023).
Địa chỉ: Tầng 4, Tòa nhà Coninco Tower, số 4 V, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội, “có mặt”.
Ngoài ra, còn có bị hại không có kháng cáo Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H có vợ là Kim Thị S (đã ly hôn năm 2019) sau đó quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Bùi Thị Q (khi làm việc tại cơ quan Công an ban đầu Q tự khai là Bùi Thị D ở thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) hiện đang làm công nhân tại Công ty ER Vina ở khu công nghiệp Bình Xuyên 2, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Do giữa H và chị Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên đầu năm 2023 chị Q chấm dứt tình cảm với H nhưng H không đồng ý và H thường xuyên đánh, yêu cầu chị Q phải duy trì mối quan hệ với H. Do sợ nên chị Q đã tránh mặt, không nghe điện thoại của H.
Khoảng 17 giờ ngày 18/5/2023, H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88A-406.16 đến cổng Công ty ER Vina nơi chị Q làm việc đợi chị Q tan làm để gặp nói chuyện mục đích để tra hỏi chị Q đi đâu, quan hệ với ai và lấy điện thoại của chị Q kiểm tra xem chị Q đang quan hệ với ai và giữ điện thoại của chị Q để ngăn cản không cho chị Q liên lạc, quan hệ với người đó. Khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, chị Q tan làm và ra lán xe của Công ty để lấy xe môtô của mình đi về phòng trọ. Lúc này H nhìn thấy chị Q nên chạy đến yêu cầu chị Q đi ra xe ô tô với H nhưng chị Q không đồng ý và đi về phía lán xe thì H đuổi theo nắm cổ tay chị Q lôi, kéo chị Q ra bên ngoài công ty để lên xe ô tô của H. Chị Q phản ứng không đi thì H du, đẩy và đe dọa đánh chị Q nên chị Q sợ không dám kháng cự, cầu cứu ai mà phải làm theo yêu cầu của H đi ra khỏi cổng Công ty đến vị trí xe ô tô của H cách cổng Công ty khoảng 50m. Khi đến xe ô tô thì H mở cửa ghế phụ phía trước bắt chị Q ngồi lên lên xe ô tô và khóa chốt cửa không cho chị Q bỏ chạy ra ngoài và điều khiển xe ô tô rời đi. Vừa đi H vừa chửi bới, chất vấn về việc H gọi điện nhưng chị Q không nghe máy rồi đánh vào mặt chị Q, yêu cầu chị Q phải đưa điện thoại cho H kiểm tra. Chị Q không đồng ý thì H giật lấy túi xách màu đen chị Q đang đeo bên sườn trái (giáp với vị trí mà H ngồi) làm bung móc khóa đeo, H mở túi lấy 01 điện thoại OPPO A93 và 01 điện thoại Iphone 12 Promax của chị Q rồi vứt túi ra hàng ghế sau của ô tô và để 02 điện thoại tại hốc chứa đồ trên xe. Chị Q đưa tay định lấy lại điện thoại thì H ngăn cản và cầm 02 chiếc điện thoại để ở hốc cần số, đồng thời tát 2- 3 cái vào mặt chị Q nên chị Q sợ hãi không dám lấy lại điện thoại. H điều khiển xe đi qua khu công nghiệp Thăng Long 3 rồi dừng lại kiểm tra điện thoại của chị Q nhưng không phát hiện thấy nội dung tin nhắn mà H nghi ngờ nên tiếp tục điều khiển xe đi về hướng phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên. Khi đi qua ngã tư thuộc địa phận thôn Tam Lộng, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, H thấy điện thoại Iphone 12 Promax của chị Q báo có tin nhắn đến từ ứng dụng Zalo nên H điều khiển xe đi vào khu đất trống thuộc thôn Tam Lộng, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên rồi dừng lại kiểm tra tin nhắn thấy có tin nhắn của anh Lê Văn Quân được chị Q lưu trong danh bạ là “Quan Anh” nhắn đến. H nghi ngờ người này có tình cảm với chị Q nên dùng điện thoại của chị Q nhắn tin và gửi hình ảnh video H và chị Q quan hệ tình dục mà H ghi lại trước đó có trong điện thoại của chị Q gửi cho anh Quân, đồng thời đập vỡ chiếc điện thoại OPPO A93 của chị Q và vứt bỏ ở ven đường, tát nhiều cái vào mặt chị Q. H chất vấn chị Q về mối quan hệ với người có tên Zalo “Quan Anh”, chị Q giải thích và nhiều lần van xin H cho xuống xe để về phòng trọ nhưng H không đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày thì H điều khiển xe đưa chị Q về phòng trọ của chị Q ở phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên cho chị Q xuống xe và trả lại chiếc túi xách cho chị Q, còn chiếc điện thoại Iphone 12 Promax H chiếm đoạt không trả cho chị Q. Chị Q bị đánh thâm tím mặt, chảy máu miệng và đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện Bình Xuyên.
Vật chứng thu giữ:
- Thu trên xe ô tô của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh rêu.
- Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 9 màu xanh; 01 xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan màu đỏ biển kiểm soát 88A-406.16 cùng các giấy tờ liên quan đến xe gồm 01 giấy biên nhận thế chấp tại Ngân hàng VIB ngày 16/3/2023; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5931610 cấp ngày 10/3/2021 của xe ô tô biển kiểm soát 88A-406.16 (bản gốc); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 002251 của xe ô tô biển kiểm soát 88A-406.16 (bản photo); 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 của Nguyễn Văn H (bản photo); 02 đoạn video thu của Công ty ER Vina ở khu công nghiệp Bình Xuyên 2.
- Chị Q giao nộp 01 túi đeo giả đã bị bung móc khóa để phục vụ công tác điều tra.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 184 ngày 01/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Bùi Thị Q tại thời điểm giám định là 00%.
Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản số 64 ngày 26/5/2023 và 93 ngày 11/8/2023 của hội đồng định giá tài sản huyện Bình Xuyên xác định: Trị giá chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax 128GB là 14.267.000 đồng; trị giá chiếc điện thoại di động OPPO A93 là 2.433.000 đồng.
Tại Kết luận giám định Kỹ thuật số điện tử số 1987 ngày 19/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chụp được 08 ảnh theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minhđược in vào 01 bản ảnh giám định ghi lại diễn biến việc H bắt, giữ chị Q trước cổng Công ty ER Vina ở khu công nghiệp Bình Xuyên 2.
Tại Kết luận giám định Kỹ thuật số điện tử số 1988 ngày 19/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chụp được 10 ảnh màn hình thể hiện tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản đang được đăng nhập trên ứng dụng với tài khoản Zalo tên “Quan Anh”. Toàn bộ dữ liệu được lưu vào đĩa DVD.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Q huyện Bình Xuyên đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm các tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cướp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu bán để sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10 Sedan 1.2AT màu đỏ biển kiểm soát 88A- 406.16 (kèm theo Giấy chứng nhận kiểm định số 5931610 cấp ngày 10.3.2021).
- Trả lại cho Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 màu xanh và 01 giấy biên nhận thế chấp tại Ngân hàng VIB số 32934.05 ngày 16/3/3023 nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP D có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm Sa bản án sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân Q huyện Bình Xuyên về phần xử lý vật chứng đối với chiếc xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan màu đỏ biển kiểm soát 88A- 406.16, đề nghị trả lại cho Ngân hàng TMCP D xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan màu đỏ biển kiểm soát 88A- 406.16 để xử lý thu hồi nợ theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử Sa bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng để trả lại cho Ngân hàng chiếc xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan màu đỏ biển kiểm soát 88A- 406.16.
Đại diện Viện kiểm sát nhân Q tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Q huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về phần quyết định xử lý vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 002251 của xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan màu đỏ biển kiểm soát 88A- 406.16 do Ngân hàng TMCP D hiện đang quản lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làm trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như kết luận giám định, lời khai của bị hại cũng như lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phúc thẩm. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ việc chị Bùi Thị Q chấm dứt quan hệ tình cảm yêu đương với Nguyễn Văn H nên H muốn tìm gặp tra hỏi Q đang quan hệ với ai và muốn chiếm đoạt điện thoại của chị Q để chị Q không liên lạc được với những nam giới khác. Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 18/5/2023, H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88A- 406.16 đến cổng công ty ER Vina ở khu công nghiệp Bình Xuyên 2, tỉnh Vĩnh Phúc nơi chị Q làm việc để gặp chị Q. H yêu cầu chị Q đi ra xe ô tô với H nhưng chị Q không đồng ý thì H đuổi theo lôi, kéo chị Q ra bên ngoài Công ty và bắt chị Q lên xe ô tô của H, chốt khóa cửa, điều khiển xe ô tô đưa chị Q đi nhiều nơi trên địa bàn huyện Bình Xuyên Trên đường đi từ Bình Xuyên về Vĩnh Yên, H liên tục chửi bới, đe dọa và đánh chị Q làm chị Q hoảng sợ, đồng thời H lấy của chị Q 01 chiếc điện thoại OPPO A93 và 01 chiếc điện thoại 12 Promax, tổng trị giá 02 chiếc điện thoại là 16.700.000 đồng. Sau nhiều lần van xin, đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày H mới đưa chị Q về khu trọ ở phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên và không trả lại điện thoại cho chị Q.
Với nội dung nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật" và "Cướp tài sản" theo khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt 03 năm 09 năm tù cho cả hai tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị về phần tội danh, hình phạt đối với bị cáo mà chỉ có kháng cáo về vật chứng vụ án là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88A- 406.16. Hiện bản án đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo Nguyễn Văn H đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Quyết Tiến – Bộ Công An nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo mà chỉ xem xét kháng cáo liên quan đến việc xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô được bị cáo S dụng làm phương tiện phạm tội.
[4] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP D về việc xin trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88A- 406.16, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trước khi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn H có vay tiền của Ngân hàng TMCP D và H thế chấp chiếc xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan biển kiểm soát 88A- 406.16 thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng. Hai bên đã xác lập Hợp đồng vay tiền và Hợp đồng thế chấp theo đúng quy định. Ngân hàng đã đăng ký giao dịch đảm bảo đối với tài sản thế chấp, theo quy định của pháp luật thì hợp đồng giao kết giữa bị cáo với Ngân hàng là hợp pháp, đã phát sinh hiệu lực, nếu bị cáo không trả được tiền vay thì Ngân hàng có quyền đề nghị bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tuy nhiên, bị cáo vi phạm thỏa thuận với Ngân hàng về mục đích S dụng tài sản thế chấp, đã cố ý S dụng xe ô tô để làm phương tiện phạm tội nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88A- 406.16 là vật chứng của vụ án hình sự là có cơ sở. Tòa án căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung công chiếc xe ô tô mà không trả lại cho Ngân hàng và dành quyền khởi kiện cho Ngân hàng đối với bị cáo H bằng vụ án Q sự theo thủ tục tố tụng Q sự là đúng pháp luật, không xâm phạm quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, kháng cáo của Ngân hàng về việc xin lại chiếc xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan 1.2AT màu đỏ biển kiểm soát 88A- 406.16 là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Q sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì: “Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm...”. Với quy định này, khi tịch thu tài sản đảm bảo của bị cáo thì về nguyên tắc cũng phải tịch thu cả giấy chứng nhận đăng ký xe trong cùng vụ án hình sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tịch thu vật chứng là xe ô tô mà không xem xét, xử lý đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đang thế chấp tại Ngân hàng là thiếu sót. Tuy không có kháng cáo, kháng nghị về nội dung này nhưng để đảm bảo việc xử lý vật chứng được kịp thời, triệt để và đúng pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét, giải quyết luôn trong vụ án hình sự. Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ Sa một phần bản án về xử lý vật chứng theo hướng buộc Ngân hàng TMCP D phải có nghĩa vụ giao nộp lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A- 406.16 cho Cơ quan thi hành án để tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
[5] Về án phí: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 345, Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP D về việc xin lại chiếc xe ô tô Huyndai Grand I10 Sedan 1.2AT biển kiểm soát 88A- 406.16.
Sa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân Q huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc về phần xử lý vật chứng.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10 Sedan 1.2AT, màu đỏ, biển kiểm soát 88A-406.16 và Giấy chứng nhận kiểm định số 5931610 cấp ngày 10.3.2021 có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án Q sự huyện Bình Xuyên lập ngày 11 tháng 3 năm 2024.
- Trả lại cho Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 màu xanh và 01 giấy biên nhận thế chấp tại Ngân hàng VIB số 32934.05 ngày 16/3/3023 (đang do Chi cục Thi hành án Q sự huyện Bình Xuyên giữ) nhưng tiếp tục tạm giữ tài sản là chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.
- Buộc Ngân hàng TMCP D phải có nghĩa vụ giao nộp lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 002251, biển kiểm soát 88A-406.16, mang tên Nguyễn Văn H do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 09.3.2021 cho Chi cục Thi hành án Q sự huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Về án phí: Ngân hàng TMCP D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Danh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Vĩnh Thành |
Lê Thị Bích Ngọc |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Danh |
8
Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN Q TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (bắt, giữ người trái pháp luật và cướp tài sản)
- Số bản án: 56/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Bắt, giữ người trái pháp luật và Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN Q TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội Bắt giữ người trái pháp luật và Cướp tài sản
