|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày 13 tháng 6 năm 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Xuân Thuỷ
- Bà Nguyễn Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Chương - thư ký Toà án nhân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện VKSND tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 13/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐSXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị N, sinh năm 1992
Địa chỉ: thôn L, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. - Bị đơn: anh Tống Văn Q, sinh năm 1991
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Chỗ ở hiện nay: số A, đường S, Làng WenLong, thị trấn M, huyện G, Đài Loan. - Người làm chứng: bà Mai Thị L, sinh năm 1969
Địa chỉ: thôn L, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
( chị N và anh Q đề nghị xét xử vắng mặt, bà L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày: chị và anh Q tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, TP T, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/7/2017. Tháng 3/2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tính không hợp, anh Q đi lao động tại Đài Loan, mỗi lần gọi điện về là hai bên xảy ra cãi vã. Chị không còn tình cảm, chung sống không có hạnh phúc nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: chị và anh Q có một con chung tên Tống Thanh T1, sinh ngày 10/4/2019, hiện nay đang ở cùng chị. Ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Q góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: không có, chị đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đề ngày 26/4/2024, bị đơn anh Tống Văn Q trình bày về thời gian kết hôn, thời điểm phát sinh mâu thuẫn như chị N khai, anh xác định không còn tình cảm nên cũng nhất trí ly hôn. Về con chung anh và chị N có một con chung như chị N trình bày, anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ chung không có. Vì lý do công việc anh đề nghị được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết.
Kết quả xác minh tại UBND xã V, TP T thể hiện: thời gian kết hôn, thời điểm phát sinh mâu thuẫn như các đương sự trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm:
Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71,72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Tống Văn Q. Giao con chung Tống Thanh T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung các đương sự đều khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Chị Trần Thị N khởi kiện xin ly hôn anh Tống Văn Q hiện đang cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Chị Trần Thị N và anh Tống Văn Q đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
[4] Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh Q tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, TP T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nên phát sinh mâu thuẫn, cả hai đều xác định không còn tình cảm, không có hạnh phúc nên nhất trí ly hôn, điều này chứng tỏ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, xử cho chị N được ly hôn anh Q.
[5] Về quan hệ con chung: hiện anh Q không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung và nhất trí nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng con T1 cho chị N, do vậy căn cứ các điều 80,81,82 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh Q góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
[6] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: các đương sự đều khai không có.
[7] Về án phí: chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- 1.Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Tống Văn Q.
- 2.Về quan hệ con chung: giao con chung Tống Thanh T1, sinh ngày 10/4/2019 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh Q góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh Q có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Chị N và anh Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
- 3. Về tài sản và nợ chung: không có.
- 4. Về án phí: chị Trần Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000148 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị N đã nộp đủ án phí.
- 5. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 13/6/2024
