|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 56/2024/HS-PT Ngày 10-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Trung Dũng
Các Thẩm phán:Ông Trịnh Hoàng Anh
Ông Trần Minh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/HSPT ngày 10-01-2024 đối với bị cáo Nguyễn Trí D và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 102/2023/HSST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Trí D, sinh năm 1985 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: 2688 khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn T; Con bà Đinh Thị T1; vợ: Trần Thị Mỹ L và có 03 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Đỗ Thanh T2, sinh năm 1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Đỗ Trọng K; Con bà Vũ Thị M; vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Đào Phương Đ, sinh năm 1993 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Đào Thanh P; Con bà Lê Thị Bích T3; vợ: Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1995 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2014. Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 09/9/2021, bị Công an thị trấn L xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 48/QĐ-XPHC.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Đào Văn T4, sinh năm 1988 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Đào Văn G; Con bà Vũ Thị H; vợ: Trần Thị Hiền L1, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Quyết định số 3243/QĐ-XPVPHC ngày 23/02/2021 của Công an phường L, Tp B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Đào Phương N, sinh năm 2000 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: 74Đ, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Đào Thanh P; Con bà Lê Thị Bích T3; vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Nguyễn Văn P1, sinh năm 1990 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: tổ A, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn T5; Con bà Nguyễn Thị N1; vợ: Lê Thị Kim T6, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 1047/QĐ ngày 08/04/2020 của UBND huyện L xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Thái Hữu T7, sinh năm 1997 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Thái Hữu P2; Con bà Đào Thị L2; vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Lê Minh T8, sinh năm 1983 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Lê Hoàng M1; Con bà Trần Thị H1; vợ: Huỳnh Ngọc T9, con: 02 con, lớn sinh năm 2012, lớn sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Hồ Hữu T10, sinh năm 2000 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: tổ A, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Bùi Hữu L3; Con bà Hồ Thị L4; vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không kháng cáo và kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 14/8/2022, Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố B phối hợp công an phường L bắt quả tang Đào Phương đ, Đinh Văn B, Lê Minh T8, Q, Lê Thanh Q, Châu Văn T11, Văn Minh Đ1, Hoàng Thanh L5, Đỗ Thanh T2, Đinh Hữu T12, Đào Phương N, Nguyễn Văn P1, Thái Hữu T7 về hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền tại bãi đất trống sau nhà của Nguyễn Trí D, tang vật thu giữ tại hiện trường:
- 01 (một ) con gà trắng (đã chết); 01 (một) con gà diều (chết)
- 01 (một) cân màu xanh nhãn hiệu Nhơn hòa, loại trọng lượng 5kg.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 14/08/2022, Nguyễn Trí D gọi điện thoại cho Nguyễn Khoa H2 hỏi có con gà nào đá không thì H2 báo lại là có 01 (một) con gà trống trắng nặng 3,1kg. Sau đó D tiếp tục gọi điện thoại cho Nguyễn Văn P1, hỏi P1 có gà đá với gà của H2 thì P1 thông báo là có 01 (một) con gà trống xanh nặng 3,1kg của Đào Phương Đ.
Sau đó Nguyễn Khoa H2, Đỗ Hồng S, Đào Văn T4, Đỗ Thanh T2 đến nhà của Nguyễn Trí D tại khu phố A, phường L, thành phố B để cá độ đá gà thắng thua bằng tiền cùng với nhóm của Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, còn Đào Phương Đ ngồi chờ ở quán nước gần nhà D.
Tại đây, Nguyễn Trí D cung cấp băng keo và cân, T4 là người băng cựa gà màu trắng của nhóm H2, Nguyễn Trí D đứng ra làm trọng tài cho hai bên cân gà, thỏa thuận tỷ lệ cá cược, số tiền cá cược, đại diện hai bên là H2 và P1 thống nhất tỷ lệ cá cược là đá đồng do hai con gà bằng ký (hai bên thắng thua 100% số tiền cá cược), số tiền cá cược của trận đá gà mỗi nhóm là 25.000.000 đồng.
Nhóm của H2 cùng góp tiền để đánh bạc như sau: Huân góp 2.000.000 đồng, S góp 10.000.000 đồng, T2 góp 7.000.000 đồng, T4 góp 6.000.000 đồng.
Nhóm của P1 cùng góp tiền để đánh bạc như sau: Nam góp 5.000.000 đồng, T10 góp 2.000.000 đồng, T7 góp 2.000.000 đồng, P1 góp 1.000.000 đồng, T8 góp 1.000.000 đồng, Đ góp 14.000.000 đồng.
Kết quả, gà của nhóm H2 thắng. Như vậy, số tiền đánh bạc trong trận này đối với Nguyễn Khoa H2, Đỗ Hồng S, Đào Văn T4, Đỗ Thanh T2, Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ là 50.000.000 đồng.
Đào Phương N đã chuyển khoản số tiền 25.000.000 đồng cho Nguyễn Trí D để chung tiền thua bạc, D thu 1.250.000 đồng tiền xâu, D chuyển số tiền 17.200.000 đồng cho H2, S, T2 qua tài khoản ngân hàng của Nguyễn Ngọc Minh T13, sinh năm: 1999, hộ khẩu thường trú: khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trong đó T4 nhờ D chuyển thêm 100.000 đồng cho H2, D trả cho H2 100.000 đồng), D trừ số tiền nợ của T2 là 1.050.000 đồng, chuyển trả qua tài khoản cho Lê Văn T14 số tiền 5.600.000 đồng.
Kết thúc trận đá gà thứ nhất, H2 và S ra về, còn Đỗ Thanh T2, Lê Văn T14 ở lại. Nhóm của Nguyễn Văn P1 thì ngồi lại quán nước đầu hẻm nhà D. Lúc này, Nguyễn Trí D tiếp tục điện thoại cho Quan P3 tìm gà đá thì P3 báo có gà 3kg, D tiếp tục gọi cho Nguyễn Văn P1 để hỏi gà đá. Tại quán nước, P1 hỏi Lê Minh T8 có gà để đá không, do trước đó vào sáng cùng ngày Lê Minh T8 sử dụng số điện thoại 0909.384.xxx để gọi vào số điện thoại 0908.760.xxx cho Thái Ngô Ý, nói gà của Ý mà T8 nuôi dùm đã đá được nay móc kèo đi đá thì Ý nói là Ý đang bận nên nhờ T8 ôm gà đi đá dùm cho Ý và đá cho Ý một hoặc hai triệu đồng, có gì thì gọi điện cho Ý. Khi nghe P1 hỏi, T8 gọi điện thoại cho Trần Thanh T15, sinh năm: 1977, hộ khẩu thường trú: khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàunhờ Trung đến nhà T8 lấy gà mang đến cho T8. Sau đó, T8 gọi điện thoại cho Ý nói có gà rồi thì Ý nói vô cáp đi có gì gọi cho Ý. Sau khi cáp xong thì T8 gọi cho Ý qua zalo nhưng chập chờn không nghe rõ.
Nguyễn Trí D tiếp tục làm trọng tài cho hai bên cân gà, gà của nhóm Quan Phong 2,9kg, gà của nhóm Nguyễn Văn P1 3kg nên tỷ lệ cá cược gà của Nguyễn Văn P1 chấp gà của của nhóm Quan P3 đá ăn 9 (nếu gà nhóm Nguyễn Văn P1 thắng chỉ ăn 90% tiền cược, gà của nhóm Quan Phong thắng ăn đủ tiền cược), số tiền cá cược mỗi nhóm là 11.000.000 đồng,
Nhóm Q góp tiền đánh bạc gồm Châu Văn T11 3.000.000 đồng, Đinh Văn B 3.000.000 đồng, Văn M2 Đại 1.000.000 đồng, còn lại 4.000.000 đồng Văn Minh Đ1, Lê Thanh Q, Hoàng Thanh L5 cùng nhau góp vào. Trong đó Hoàng Thanh L5 chia lại cho Quan P3 góp số tiền 500.000 đồng.
Nhóm của Nguyễn Văn P1, chỉ mỗi Lê Minh T8 đá số tiền 11.000.000 đồng.
Những người trong nhóm Nguyễn Văn P1 chưa được cá cược nên Thái Hữu T7 đứng ra nói đá tỷ lệ 10 ăn 6 để tìm kèo thì Nguyễn Trí D thỏa thuận cho hai nhóm thêm một tỷ lệ cá cược là gà nhóm P1 chấp gà nhóm P3 thắng 60% số tiền đặt cược (nếu gà nhóm Nguyễn Văn P1 thắng chỉ ăn 60% tiền cược, gà của nhóm Quan Phong thắng ăn đủ tiền cược), số tiền cá cược mỗi nhóm là 9.000.000 đồng.
Nhóm Nguyễn Văn P1 gồm Nguyễn Văn P1 góp 1.000.000 đồng, Hồ Hữu T10 góp 1.000.000 đồng, Thái Hữu T7 góp 1.000.000 đồng, Đào Phương N góp 1.000.000 đồng, Đào Phương Đ góp 5.000.000 đồng.
Nhóm Quan P3 gồm Châu Văn T11 góp 2.000.000 đồng, Đinh Văn B góp 1.000.000 đồng, còn lại 6.000.000 đồng thì Lê Thanh Q, Hoàng Thanh L5, Văn Minh Đ1 cùng nhau góp vào.
Cùng lúc này, Đỗ Thanh T2 chọn gà của nhóm Nguyễn Văn P1 thắng với số tiền 3.000.000 đồng (Đỗ Thanh T2 2.000.000 đồng, T14 1.000.000 đồng) và thông báo cho Nguyễn Trí D biết để tìm người cá cược, nhưng D quên nên D cá cược trực tiếp với T2.
Kết quả, gà của nhóm Nguyễn Văn P1 thua. Như vậy, số tiền đánh bạc trong trận này của Quan P3, Châu Văn T11, Đinh Văn B, Văn Minh Đ1, Lê Thanh Q, Hoàng Thanh L5, Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ, Thái Ngô Ý là 40.000.000 đồng.
Số tiền đánh bạc của Đỗ Thanh T2, Lê Văn T14 và Nguyễn Trí D là là 6.000.000 đồng.
Lê Văn T14 đã đưa cho Đỗ Thanh T2 500.000 đồng, thiếu lại T2 500.000 đồng, T2 đã đưa cho Nguyễn Trí D 3.000.000 đồng. Còn Đào Phương N đã chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng cho Nguyễn Trí D để thanh toán cho bên thắng. D chưa kịp thanh toán tiền cho nhóm T11 thì cơ quan Công an bắt quả tang.
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáoNguyễn Văn Phú, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ, Nguyễn Trí D, Đỗ Thanh T2, Lê Văn Trọng phạm t 02 lần trở lên.
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo Châu Văn T11, Đinh Văn B, Văn Minh Đ1, Lê Thanh Q, Hoàng Thanh L5, Thái Ngô Ý phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo Đỗ Hồng S, Nguyễn Khoa H2 đầu thú.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 102/2023/HSST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Khoa H2, Đỗ Hồng S, Đào Văn T4, Đỗ Thanh T2, Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ, Châu Văn T11, Đinh Văn B, Văn Minh Đ1, Lê Thanh Q, Hoàng Thanh L5, Quan P3, Thái Ngô Ý phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Trí D 03 (ba) năm tù.
Áp khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Trí D 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Trí D phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đào Phương Đ 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Thanh T2 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52;Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đào Văn T4 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đào Phương N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hồ Hữu Thọ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: T (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn P1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Minh T8 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên phạt các bị cáo, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 20/9/2023, bị cáo Nguyễn Trí D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 22/9/2023, bị cáo Đào Văn T4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 25/9/2023, các bị cáo N, T2, T8, T7, T10, Đ, P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, mức án đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp được tình tiết, chứng cứ nào mới làm căn cứ xin giảm hình phạt. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trí D, Đỗ Thanh T2, Đào Văn T4, Đào Phương Đ, Lê Minh T8, Đào Phương N, Hồ Hữu T10, Thái Hữu T7, Nguyễn Văn P1 gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Các bị cáo Nguyễn Trí D, Nguyễn Khoa H2, Đỗ Hồng S, Đào Văn T4, Đỗ Thanh T2, Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ, Châu Văn T11, Đinh Văn B, Văn Minh Đ1, Lê Thanh Q, Hoàng Thanh L5, Q, Thái Ngô Ý cùng nhau cá cược thắng thua bằng hình thức đá gà cụ thể như sau:
Trận thứ 1: Khoảng 11 giờ 00 ngày 14/8/2022, tại nhà của Nguyễn Trí D tại khu phố A, phường L, thành phố B, D có hành vi móc nối, cung cấp cân, băng keo cho nhóm của Nguyễn Khoa H2, Đỗ Hồng S, Đào Văn T4, Đỗ Thanh T2 đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn tiền với nhóm Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ, với tổng số tiền đánh bạc là 50.000.000 đồng, D thu được số tiền 1.250.000 đồng tiền xâu.
Trận thứ 2: Khoảng 12 giờ 30 ngày 14/8/2022, tại nhà của Nguyễn Trí D tại khu phố A, phường L, thành phố B, Thái Ngô Ý có hành vi cung cấp gà còn D tiếp tục móc nối cho nhóm của Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn tiền với nhóm Quan P3, Đinh Văn B, Lê Thanh Q, Châu Văn T11, Hoàng Thanh L5, Văn Minh Đ1 với tổng số tiền đánh bạc là 40.000.000 đồng. D đã nhận tiền của bên thua, chưa kịp thanh toán tiền cho nhóm T11 thì cơ quan Công an bắt quả tang.
Ngoài ra, trong trận này Nguyễn Trí D thỏa thuận đánh bạc trực tiếp với Đỗ Thanh T2 và Đào Văn T4. Sau khi kết thúc trận đấu D đã nhận số tiền 3.000.000 đồng từ T2, như vậy bị cáo D phải chịu trách nhiệm và đồng phạm cùng T2, T4 với tổng số tiền đánh bạc là 6.000.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Trí D phạm các tội “Tổ chức Đánh bạc” và “Đánh bạc” theo điểm a, b, c khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; xét xử các bị cáo Đỗ Thanh T2, Đào Phương Đ, Đào Văn T4, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Hồ Hữu T10 tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi của phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Trí D là người có vai trò cao nhất trong vụ án, chủ động tìm người để đá gà ăn tiền, tổ chức cho nhiều người khác đánh bạc tại nhà của mình và được trả tiền xâu. Ngoài ra bị cáo còn tham gia đánh bạc với bị cáo T4 và T2. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo D 03 năm 06 tháng tù về các tội “Tổ chức Đánh bạc” và “Đánh bạc” là tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được chứng cứ hoặc tình tiết nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Các bị cáo Đỗ Thanh T2, Đào Phương Đ, Đào Văn T4, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Nguyễn Văn P1, Lê Minh T8, Hồ Hữu T10 là người trực tiếp tham gia đánh bạc. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo Đ 03 năm 02 tháng tù, xử phạt bị cáo T2, T4, N, T10, T7, P1, T8 mỗi bị cáo 03 năm tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không đưa ra được chứng cứ hoặc tình tiết nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Bị cáo Lê Minh T8 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cung cấp đoạn file ghi âm cuộc nói chuyện điện thoại giữa Nguyễn Đức D1 và Thái Ngô Ý, tích cực hợp tác giúp Cơ quan điều tra phát hiện thêm đồng phạm khác trong vụ án; là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, ngày 13/6/2023, bị cáo T8 đã hỗ trợ Công an huyện Đ bắt được hai đối tượng trộm cắp tài sản, thu hồi được tài sản trả lại cho người bị hại, được Công an huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gửi T16 cảm ơn do vậy cần áp dụng tình tiết người phạm tội đã lập công chuộc tội theo điểm u khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.
Xét bị cáo T8 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS đối với bị cáo và áp dụng Điều 35 BLHS xử phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn chấp nhận kháng cáo của bị cáo T8, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo T8 không phải chịu án phí. Các bị cáo còn lại không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí theo quy định.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Trí D, Đỗ Thanh T2, Đào Văn T4, Đào Phương Đ, Đào Phương N, Hồ Hữu T10, Thái Hữu T7, Nguyễn Văn P1; chấp nhận kháng cáo của Lê Minh T8; Sửa Bản án sơ thẩm số 102/2023/HSST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trí D phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”.
Các bị cáo Đào Văn T4, Đỗ Thanh T2, Nguyễn Văn P1, Đào Phương N, Thái Hữu T7, Hồ Hữu T10, Đào Phương Đ, Lê Minh T8 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Trí D 03 (ba) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Trí D 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Trí D phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đào Phương Đ 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đỗ Thanh T2 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đào Văn T4 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Đào Phương N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn P1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: T (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Hồ Hữu Thọ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Lê Minh T8 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2023/HSST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Các bị cáo Nguyễn Trí D, Đỗ Thanh T2, Đào Văn T4, Đào Phương Đ, Đào Phương N, Hồ Hữu T10, Thái Hữu T7, Nguyễn Văn P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo Lê Minh T8 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 56/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trí D 322
