TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày 13 - 5 - 2024 "V/v: Ly hôn giữa chị Ý với anh Vương" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Mười.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Huyên
- Ông Nguyễn Văn Kháng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Đạt – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Như Ý, sinh năm: 1996, có mặt
- Nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- Nơi ở hiện tại: Thôn X, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm: 1991, vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/8/2015, vắng mặt
- Đại diện theo pháp luật của cháu H: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm: 1991, là bố đẻ cháu, vắng mặt
- Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- + Cháu Nguyễn Thị Ánh H1, sinh ngày 01/8/2019, vắng mặt
- Đại diện theo pháp luật của cháu H1: Chị Đỗ Thị Như Ý, sinh năm: 1996, là mẹ đẻ cháu.
- Đều có nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- Đều có nơi ở hiện tại: Thôn X, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai, nguyên đơn chị Ý trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng bố mẹ chồng tại thôn Đ, xã C, huyện V. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong làm ăn kinh tế nên kinh tế vợ chồng gặp nhiều khó khăn, khiến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Vợ chồng cũng đã nhiều lần trao đổi với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 08 năm 2019, chị đưa con gái về ở nhà bố mẹ đẻ là bà Đào Thị N, sinh năm: 1957 tại thôn X, xã Đ, huyện V. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, trong thời gian sống ly thân, hai vợ chồng không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai chỉ biết bổn phận của người đó. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh V để ổn định cuộc sống
Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/8/2015 và cháu Nguyễn Thị Ánh H1, sinh ngày 01/8/2019. Hiện nay cháu H đang ở cùng anh V, cháu H1 đang ở cùng chị, chị không có thai nghén gì. Chị đề nghị Toà án giải quyết giao anh V chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H đến khi cháu H thành niên và giao chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1 đến khi cháu H1 thành niên. Chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty V2 (trụ sở: Xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên) thu nhập bình quân từ 8.000.000 đồng – 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị có tài sản chung nhưng anh chị tự thỏa thuận với nhau nên chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về vay nợ: Vợ chồng chị không nợ ai, không cho ai vay nợ nên chị không không yêu cầu Toà án giải quyết; Về ruộng nông nghiệp: Chị không có ruộng nông nghiệp nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công sức: Vợ chồng chị không có công sức với hai bên gia đình nên chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lời khai của bị đơn anh V khai thống nhất như lời khai của chị Ý về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, về nợ, công sức và ruộng nông nghiệp.
Về mâu thuẫn vợ chồng anh V xác định đầu năm 2019 chị Ý tự ý đưa cháu cháu H1 về nhà mẹ đẻ mà không hỏi ý kiến của anh cũng như gia đình anh. Anh cũng có hỏi lý do chuyển về nhà ngoại thì chị Ý chỉ bảo muốn về bên ngoại một thời gian để làm kinh tế, chị Ý không nói khi nào sẽ quay về ở cùng anh. Trong quá trình chị Ý ở nhà ngoại, anh thỉnh thoảng có sang nhà ngoại để thăm con gái anh và anh cũng đã nhiều lần trao đổi với chị Ý về việc vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chị Ý không đồng ý. Gia đình anh và mẹ chị Ý cũng đã tham gia hòa giải, nói chuyện với vợ chồng anh để về chung sống cùng nhau nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, chị Ý khởi kiện ly hôn đối với anh, anh xác định anh vẫn còn tình cảm với chị Ý nên anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ý và đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng về chung sống với nhau và nuôi dạy con cái.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/8/2015 và cháu Nguyễn Thị Ánh H1, sinh ngày 01/8/2019. Hiện nay cháu H đang ở cùng anh, cháu H1 đang ở cùng chị Ý. Trong trường hợp vợ chồng anh ly hôn, anh không có quan điểm về con chung vì anh xác định anh không đồng ý ly hôn. Hiện nay anh đang làm công nhân tại Công ty B (trụ sở: Khu công nghiệp P, huyện V) thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, về nợ, về ruộng nông nghiệp, về công sức: Anh xác định vợ chồng không có gì, nên anh cũng không yêu cầu Tòa giải quyết.
Cháu Nguyễn Trung H trình bày: Bố mẹ cháu ly hôn, cháu đề nghị Toà án giải quyết cho cháu được ở với bố. Cháu không liên quan gì đến kinh tế của bố mẹ nên cháu tự nguyện không yêu cầu giải quyêtts. Sau này toà án đưa vụ việc ra giải quyết, cháu đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt cháu.
Bà Đào Thị N (mẹ đẻ chị Ý) trình bày: Chị Ý và anh V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C năm 2014. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do năm 2019 chị Ý sinh con gái, không phải con trai, mặc dù chị Ý trước đó đã sinh được một cháu trai là cháu H nhưng gia đình nhà chồng vẫn mong muốn sinh được hai con trai, mẹ chồng chị Ý là bà Đỗ Thị T bảo với bà là “đẻ con gái ngắn đời”. Đến khi cháu H1 được 11 tháng thì gia đình bên nội và anh V đuổi chị Ý và cháu H1 sang ở nhà bà từ đó đến nay. Trong thời gian này, chị Ý và anh V sống ly thân với nhau, anh V thỉnh thoảng có sang thăm cháu H1 nhưng bà cũng không thấy anh V và chị Ý trao đổi gì về tình cảm vợ chồng. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Ý ly hôn anh V do anh chị ly thân đã hơn 04 năm, hai bên gia đình không hòa giải được mâu thuẫn vợ chồng anh chị. Về con chung, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Ý được nuôi cháu H1 đến khi thành niên và giao anh V nuôi cháu H đến khi thành niên. Bà cam kết sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi tốt nhất cho chị Ý về chỗ ăn ở, nuôi con và bà cũng sẽ cùng chị Ý chăm sóc con chung của anh chị. Bà xác định bà không liên quan gì đến vợ chồng anh chị về kinh tế; bà không cho anh chị vay cũng như anh chị không cho bà vay nợ gì nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này Tòa án đưa vụ án ra xét xử, bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bà Đỗ Thị V1 (là mẹ đẻ anh V) trình bày: Anh V và chị Ý đăng ký kết hôn tại UBND xã Chỉ Đạo năm 2014. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng vợ chồng bà. Quá trình chung sống, anh chị có nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự tin tưởng nhau trong cuộc sống. Chị Ý đi làm công ty, không dành nhiều thời gian cho gia đình. Từ năm 2019, chị Ý đưa con gái về ở hẳn nhà ngoại và không về ở gia đình bà nữa. Hai bên gia đình cũng đã nhiều lần trao đổi, hòa giải để anh chị về ở với nhau nhưng không có kết quả. Bà đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị về ở với nhau, trường hợp không hòa giải được bà để cho anh chị tự quyết định. Về con chung của anh V, chị Ý, bà đề nghị để cho anh chị tự quyết định. Bà không liên quan đến tài sản, kinh tế của vợ chồng anh chị nên bà không yêu cầu giải quyết. Bà bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị Ý, anh V đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Tòa án hòa giải nhưng không thành nên phải đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa: Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm như sau:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án và nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Như Ý, cho chị Đỗ Thị Như Ý ly hôn anh Nguyễn Minh V.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ánh H1, sinh ngày 01/8/2019 cho chị Ý tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/8/2015 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ý, anh V không yêu cầu anh chị phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Ý, anh V có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, về nợ, về ruộng nông nghiệp, công sức: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Buộc đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm nhận định;
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Ý yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung. Yêu cầu của chị là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Cháu H đề nghị giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Minh V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ý kết hôn với anh V năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Chị Ý cùng con gái là cháu H1 về ở nhà mẹ đẻ từ tháng 8 năm 2019. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Anh V mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái nhưng anh không đưa ra giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã hòa giải nhiều lần nhưng chị Ý vẫn cương quyết đề nghị được ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Ý, cho chị ly hôn anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/8/2015 và cháu Nguyễn Thị Ánh H1, sinh ngày 01/8/2019. Hiện nay cháu H đang ở cùng anh V, cháu H1 đang ở cùng chị Ý nên tiếp tục giao cháu H1 cho chị Ý nuôi dưỡng đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi, giao cháu H cho anh V nuôi dưỡng đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ý, anh V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V, chị Ý có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[2.3]. Về tài sản chung vợ chồng, về nợ, về ruộng nông nghiệp, về công sức: Anh chị tự nguyện không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Như Ý, cho chị Đỗ Thị Như Ý ly hôn anh Nguyễn Minh V.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ánh H1, sinh ngày 01/8/2019 cho chị Ý tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 17/8/2015 cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ý, anh V không yêu cầu anh chị phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Ý, anh V có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, về nợ, về ruộng nông nghiệp, công sức: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị Như Ý phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được đối trừ với 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 1707 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, chị Ý đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
Nơi nhận:
| T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Mười |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
