Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 56/2024/DS-ST

Ngày: 13/5/2024

V/v đòi lại tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Đông

Bà Trần Ngọc Diệu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hoa, sinh năm 1977;

    Nơi cư trú: ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng Vân, sinh năm 1961;

    Nơi cư trú: ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Tiết Kim Hòa Bình, sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông Bình: Bà Trần Thị Hoa, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

    2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc Trung – Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Bà Hoa và bà Vân có mặt; ông Trung vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Hoa đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Tiết Kim Hòa Bình trình bày:

Trước đây, bà có vay tiền của bà Trần Thị Hồng Vân. Năm 2017, bà Vân khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà trả tiền vay. Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 101/2017/QÐST-DS ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã buộc vợ chồng bà trả cho bà Vân số tiền 65.600.000 đồng và bà Vân đồng ý cho vợ chồng bà trả dần. Sau khi có Quyết định số 101, vợ chồng bà đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Vân như sau:

  • Ngày 20/12/2017 tại nhà bà Vân, bà đã trả cho bà Vân số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng, bà có viết biên nhận và bà Vân ký tên phía dưới.
  • Ngày 13/01/2018, bà đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm (gọi tắt là Chi cục THADS) để làm đơn tự nguyện thi hành Quyết định 101 của Tòa án và nộp số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng. Do bà không có phương tiện đi lại nên cán bộ Thi hành án có giải thích là bà có thể trả tiền trực tiếp cho bà Vân tại nhà vì nhà của bà và bà Vân gần nhau. Từ lúc đó, bà tiếp tục tự trả tiền cho bà Vân.
  • Ngày 23/01/2018 tại nhà bà Vân, bà đã trả cho bà Vân số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, bà có viết biên nhận và bà Vân ký tên phía dưới.
  • Ngày 15/02/2018 tại nhà bà Vân, bà đã trả cho bà Vân số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng, bà Vân tự viết và ký tên vào biên nhận.
  • Ngày 17/3/2018 tại nhà bà Vân, bà đã trả cho bà Vân số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng, bà Vân tự viết và ký tên vào biên nhận.
  • Từ tháng 4/2018 đến cuối năm 2018, bà tiếp tục trả cho bà Vân 14 lần tổng cộng là 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng nhưng hai bên không làm giấy tờ nên bà cũng không nhớ chính xác thời gian trả.

Tổng cộng, bà đã trả cho bà Vân số tiền là 51.500.000 đồng. Sau đó, do vợ chồng bà làm ăn khó khăn nên không có tiền trả tiếp số tiền còn lại cho bà Vân. Đến tháng 11/2023, chấp hành viên của Chi cục THADS đến nhà yêu cầu bà trả cho bà Vân thì bà mới biết là Chi cục Thi hành án đang thi hành theo đơn yêu cầu bà Vân. Do lúc đó bà không nhớ số tiền 1.500.000 đồng mà bà đã trả cho bà Vân tại Chi cục THADS nên ngày 28/11/2023, bà đến Chi cục THADS huyện Giồng Trôm nộp thêm số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng xem như là trả tất nợ cho bà Vân nhưng chấp hành viên thông báo là số tiền nợ bà Vân yêu cầu vợ chồng bà phải trả lên đến là 59.000.000 đồng. Lúc này, bà mới biết là bà Vân không trừ các khoản tiền mà bà đã tự trả cho bà Vân trước đó. Do đó, bà đã khởi kiện để yêu cầu

bà Vân trả lại bà các khoản tiền mà bà đã tự trả cho bà Vân.

Khi làm đơn yêu cầu thi hành án, bà Vân đã trừ số tiền 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng nên bà đồng ý trừ lại số tiền này và bà chỉ yêu cầu bà Vân trả lại số tiền 45.000.000 (Bốn mươi lăm triệu) đồng.

Đối với khoản tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng mà bà đã nộp tại Chi cục THADS huyện Giồng Trôm vào ngày 28/11/2023 là khoản tiền bà nộp để thi hành án cho bà Vân và bà Vân đã nhận số tiền này nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét trong vụ án này.

Bà đã nhận được Kết luận giám định số 141/2024/KL-KTHS và Công căn số 31/CV-KTHS cùng ngày 21/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre. Bà đồng ý với kết luận giám định này nhưng bà khẳng định việc sửa chữa, viết thêm trong biên nhận là do bà Vân tự làm bà hoàn toàn không biết. Bà không yêu cầu giám định việc sữa chữa, viết thêm này. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Theo lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị Hồng Vân trình bày:

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 101/2017/QÐST-DS ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm thì bà Hoa, ông Bình phải có trách nhiệm trả bà số tiền 65.600.000 đồng theo phương thức trả dần. Tuy nhiên, từ khi có Quyết định số 101 đến khi bà có đơn yêu cầu thi hành án thì vợ chồng bà Hoa, ông Bình chỉ trả bà số tiền 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng, cụ thể:

  • Ngày 20/12/2017, bà Hoa trả 2.000.000 (Hai triệu) đồng tại nhà của bà;
  • Ngày 23/01/2018, bà Hoa trả 1.000.000 (Một triệu) đồng tại nhà của bà;
  • Ngày 24/01/2018, Chi cục THADS huyện Giồng Trôm chi cho bà số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng do bà Hoa nộp;
  • Ngày 15/02/2018, bà Hoa trả 1.000.000 (Một triệu) đồng tại nhà của bà;
  • Ngày 17/3/2018, bà Hoa trả 1.000.000 (Một triệu) đồng tại nhà của bà;

Cả 04 lần bà Hoa trả tiền tại nhà bà và khoản tiền bà nhận từ Chi cục THADS bà đều viết vào biên nhận và bà tự lưu giữ.

Do vợ chồng bà Hoa không tiếp tục trả tiền nên ngày 02/11/2018, bà đến Chi cục THADS huyện Giồng Trôm làm đơn yêu cầu ông Bình, bà Hoa trả cho bà số tiền còn nợ là 59.000.000 đồng, (bà đã bớt 100.000 đồng để làm tròn số tiền). Nay bà Hoa cho rằng bà Hoa đã trả cho bà 51.500.000 đồng (gồm 50.000.000 đồng tự trả và 1.500.000 đồng nộp tại Chi cục THADS huyện Giồng Trôm) là không có nên bà không đồng ý trả lại số tiền 45.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Hoa.

Đối với số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng mà bà đã nhận vào ngày

28/11/2023 tại Chi cục THADS huyện Giồng Trôm bà cũng thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét trong vụ án này.

Bà đã nhận được Kết luận giám định số 141/2024/KL-KTHS và Công văn số 31/CV-KTHS cùng ngày 21/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre. Bà không đồng ý với kết luận giám định này, bà khẳng định là bà không có viết và ký tên vào biên nhận mà bà Hoa yêu cầu giám định. Tuy nhiên, bà không yêu cầu giám định lại mà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Tại văn bản số 500/CCTHADS ngày 12/4/2024, Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Giồng Trôm có ý kiến:

Căn cứ đơn tự nguyện thi hành án ngày 16/01/2018 của bà Trần Thị Hoa, Chi cục THADS huyện Giồng Trôm ban hành Quyết định thi hành án theo theo đơn số 657/QĐ-CCTHADS ngày 22/01/2018 với số tiền phải thi hành là 1.500.000 đồng theo biên lai 0003886 ngày 16/01/2018. Chi cục THADS đã tiến hành chi trả số tiền 1.500.000 đồng cho bà Vân ngày 24/01/2018 theo phiếu chi PCBH.CD18.374, đồng thời đã tiến hành thu phí thi hành án số tiền 45.000đ theo Quyết định 51/QĐ-CCTHADS ngày 24/01/2018 nên số tiền thực nhận của bà Vân là 1.455.000 đồng.

Đến ngày 02/11/2018, Chi cục THADS huyện Giồng Trôm thụ lý đơn yêu cầu THA của bà Trần Thị Hồng Vân và ban hành Quyết định thi hành án số 256/QĐ-CCTHADS ngày 06/11/2018; nội dung: yêu cầu bà Hoa và ông Bình phải liên đới trả cho bà Vân số tiền 59.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Ngày 28/11/2023, bà Hoa thực hiện nộp số tiền 15.000.000 đồng theo biên lai 0002979 và Chi cục THADS đã chi trả cho bà Vân ngày 28/11/2023. Số tiền còn phải thi hành là 44.000.000 đồng cùng lãi suất chậm thi hành án.

Qua xem xét hồ sơ, Chi cục THADS huyện Giồng Trôm xác định quá trình thu và chi tiền nêu trên đúng theo quy định. Chi cục THADS xin vắng mặt trong vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 101/2017/QÐST-DS ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã buộc vợ chồng bà Hoa, ông Bình phải liên đới trả cho bà Vân số tiền 65.600.000 đồng và bà Vân đồng ý cho bà Hoa, ông Bình trả dần. Sau khi có Quyết định số 101, bà Hoa đã nhiều lần trả tiền cho bà Vân nhưng hai bên không thống nhất về số tiền đã trả. Theo Kết luận giám định số 141/2024/KL-KTHS và Công văn số 31/CV-KTHS cùng ngày 21/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre và phiếu chi PCBH.CD18.374 ngày 24/01/2018 của Chi cục

THADS huyện Giồng Trôm có căn cứ xác định bà Hoa đã trả cho bà Vân số tiền là 6.500.000 đồng. Đối với số tiền 45.000.000 đồng, bà Hoa không chứng minh được bà đã trả cho bà Vân nên yêu cầu đòi lại tiền của bà Hoa là không có căn cứ. Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Trần Thị Hoa với bà Trần Thị Hồng Vân là tranh chấp về đòi lại tài sản. Bị đơn bà Vân có nơi cư trú tại xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Chi cục THADS huyện Giồng Trôm có yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 101/2017/ QĐST-DS ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã buộc vợ chồng bà Trần Thị Hoa, ông Tiết Kim Hòa Bình phải liên đới trả cho bà Trần Thị Hồng Vân số tiền 65.600.000 đồng, bà Vân đồng ý cho bà Hoa, ông Bình trả dần. Sau khi có Quyết định số 101, bà Hoa đã nhiều lần trả tiền cho bà Vân; trong đó:

  • Bà Hoa và bà Vân thống nhất: Bà Vân có nhận của bà Hoa số tiền 4.000.000 trong các ngày: Ngày 20/12/2017 nhận 2.000.000 (Hai triệu) đồng; Ngày 23/01/2018 nhận 1.000.000 (Một triệu) đồng; Ngày 17/3/2018 nhận 1.000.000 (Một triệu) đồng nên đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Bà Hoa và bà Vân thống nhất: Bà Hoa đã trả cho bà Vân số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng tại Chi cục THADS huyện Giồng Trôm.
  • Đối với số tiền bà Vân nhận ngày 15/02/2018: Bà Hoa cho rằng ngày 15/02/2018 bà đã trả cho bà Vân số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng nhưng bà Vân chỉ thừa nhận số tiền bà Hoa trả cho bà là 1.000.000 (Một triệu) đồng. Bà Hoa cung cấp chứng cứ là biên nhận có chữ viết và chữ ký của bà Vân. Bà Vân không đồng ý nên đã yêu cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 141/2024/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre đã kết luận: {...... chữ ký, chữ viết trên trang thứ hai (trừ số “0” trong dãy chữ số “10 triệu đồng” và vần “ười” trong chữ “Mười” tại dòng 2, tính từ trên xuống dưới) của mẫu cần giám định so với mẫu chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Hồng Vân trên mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra}; và tại công văn số 31/CV-KTHS ngày

21/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre cho biết: “Trong quá trình nghiên cứu giám định đã phát hiện một số nội dung trên tài liệu cần giám định có dấu vết sửa chữa, viết thêm”. Sau khi nhận được kết luận giám định cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự thống nhất không có khiếu nại và cũng không yêu cầu giám định lại. Do đó, căn cứ vào kết luận giám định số 141 và công văn số 31 nêu trên có cơ sở xác định số tiền bà Hoa trả cho bà Vân trong ngày 15/02/2018 là 1.000.000 (Một triệu) đồng.

  • Đối với 14 lần trả tiền từ tháng 4/2018 đến cuối năm 2018: bà Hoa cho rằng bà đã trả cho bà Vân 14 lần với tổng số tiền là 36.000.000 đồng nhưng hai bên không làm giấy tờ và bà cũng không nhớ chính xác thời gian. Bà Vân không thừa nhận có nhận số tiền này. Xét thấy, ngày 02/11/2018, Chi cục THADS huyện Giồng Trôm thụ lý đơn yêu cầu thi hành án của bà Trần Thị Hồng Vân và ban hành Quyết định thi hành án số 256/QĐ-CCTHADS ngày 06/11/2018; nội dung: yêu cầu bà Hoa và ông Bình phải liên đới trả cho bà Vân số tiền 59.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà Hoa thừa nhận là bà có ký tên vào “Biên bản tống đạt và giải quyết việc thi hành án” ngày 08/11/2018 của Chi cục THADS huyện Giồng Trôm. Như vậy, tại thời điểm bà Hoa ký nhận Quyết định thi hành án số 256/QĐ-CCTHSDS ngày 06/11/2023 thì bà Hoa đã biết số tiền bà Vân yêu cầu bà và ông Bình phải trả là 59.000.000 đồng; nhưng bà không thắc mắc cũng không có ý kiến phản đối. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã ban hành Thông báo số 69/TB-TA ngày 22/02/2024 về việc yêu cầu bà Hoa phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà Hoa, ông Bình đã trả cho bà Vân số tiền 36.000.000 đồng nhưng bà Hoa không có chứng cứ gì để cung cấp. Hơn nữa, xem xét lời khai của bà Hoa tại biên bản hòa giải ngày 12/01/2024 và trong quá trình tố tụng cũng không thống nhất về thời gian bà trả số tiền 36.000.000đồng cho bà Vân. Như vậy, lời trình bày này của bà Hoa là không có cơ sở để xem xét.

Từ những nhận định trên cho thấy, tính đến thời điểm bà Vân làm đơn yêu cầu thi hành án thì bà Hoa chỉ trả cho bà Vân số tiền 6.500.000 đồng. Do vậy, việc bà Vân làm đơn yêu cầu thi hành án để yêu cầu bà Hoa, ông Bình trả tiếp số tiền 59.000.000 đồng là phù hợp. Do bà Hoa không chứng minh được số tiền bà Hoa đã trả cho bà Vân là 51.500.000 đồng nên việc bà Hoa yêu cầu bà Vân trả lại số tiền 45.000.000 đồng là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng bà Hoa đã nộp tại Chi cục THADS huyện Giồng Trôm và Chi cục THADS huyện Giồng Trôm đã chi cho bà Vân vào ngày 28/11/2023 là khoản tiền thi hành án sau khi có Quyết định thi hành án số 256/QĐ-CCTHADS ngày 06/11/2018; bà Vân đã nhận số tiền này. Bà Hoa và bà Vân cùng xác định không yêu cầu Tòa án xem xét số tiền 15.000.000 đồng

trong vụ án này là phù hợp.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định 04 nội dung trong giấy tay cần giám định tổng cộng là 3.060.000 đồng, bà Vân đã nộp tạm ứng toàn bộ. Do kết luận luận giám định đã kết luận ¼ nội dung cần giám định là chữ viết và chữ ký của bà Vân nên bà Vân phải chịu ¼ chi phí giám định là 2.295.000 đồng. Đối với nội dung giám định còn lại số tiền là 765.000 đồng thì có 1 phần là chữ viết, chữ ký của bà Vân, 1 phần có dấu vết sửa chữa, viết thêm nên bà Vân và bà Hoa mỗi bên chịu ½ số tiền này là 382.500 đồng. Tổng cộng, bà Vân phải chịu chi phí giám định là 2.677.500 đồng và bà Vân đã nộp xong. Bà Hoa phải trả cho bà Vân số tiền 382.500 đồng.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.250.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hoa về việc yêu cầu bà Trần Thị Hồng Vân phải trả lại bà Hoa số tiền 45.000.000 (Bốn mươi lăm triệu) đồng.
  • Về chi phí tố tụng: Bà Vân phải chịu chi phí giám định là 2.677.500 (hai triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm) đồng và bà Vân đã nộp xong. Bà Hoa phải trả cho bà Vân số tiền chi phí giám định là 382.500 (Ba trăm tám mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Hoa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.250.000 (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 1.250.000 (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002712 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà Hoa còn phải nộp số tiền án phí là 1.000.000 (Một triệu) đồng.
  • Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger