|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 56/2024/HSST Ngày 12-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Thẩm phán: Ông Đặng Đức Hào
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Sế
Ông Trần Văn Việt
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024, đối các với bị cáo:
1. Nguyễn Trần Phương U, sinh năm 2001 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: ấp Đ, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Căn hộ U, Chung cư K số D đường Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Huy T, sinh năm 1970; Mẹ: Trần Thị Kim P, sinh năm 1971; Chồng, con: không.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 03/6/2023 (có mặt).
2. Trần Đức A, sinh năm 1999 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: A C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân
tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Cha: Trần Văn S, sinh năm 1970; Mẹ: Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1973; Vợ, con: không;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 01/6/2023 (có mặt).
* Người bào chữa cho các bị cáo U, A: Luật sư Phạm Quốc D thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp nơi ở của các đối tượng:
Vào lúc 00 giờ 05 phút, ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trước Chung cư G địa chỉ A H, phường B, thành phố V, Công an thành phố V đã phối hợp với Công an P1, thành phố V bắt quả tang đối tượng Trần Đức A về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon dạng túi zíp bên trong có chứa một gói nylon dạng túi zíp có chứa chất rắn màu trắng cùng 05 viên nén màu xanh tròn (Đức A khai nhận đó là ma túy dạng khay và thuốc lắc); 02 điện thoại di động (01 điện thoại hiệu Iphone, số Imel: 353897103657302; 01 điện thoại hiệu Nokia, số I: 3524289057922526; 01 xe máy hiệu Honda Vision, màu xanh-đen, biển kiểm soát: 72C2-534 (BL số 01-02).
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đức A tại địa chỉ A đường C, phường H, thành phố V. Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói nylon hàn kín chứa 14 viên nén màu xanh; 01 gói nylon hàn kín chứa 22 viên nén màu xanh; 01 gói nylon hàn kín chứa 40 viên nén màu xanh; 01 gói nylon hàn kín chứa 280 viên nén, màu xanh; 01 gói nylon hàn kín chứa 08 viên nén màu hồng; 01 gói nylon hàn kín chứa 07 viên nén hình tròn, màu xanh, phía trên in chữ “L” và “V” lồng vào nhau; 01 gói nylon hàn kín chứa 23 viên nén màu xanh; 01 gói nylon hàn kín chứa 01 mảnh viên nén màu xanh (tất cả các viên nén này Đức A khai nhận là ma túy tổng hợp dạng “thuốc lắc”).
- - 02 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng. (Đức A khai nhận là ma túy dạng “khay”) (BL số 03-04,12).
Toàn bộ số ma túy cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Trần Đức A, Đức A khai nhận đã mua người phụ nữ tên U, tại TP ..
Mở rộng điều tra ngày 02/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trần Phương U, sinh năm 2001, trú tại: ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh bà R - Vũng Tau; nơi ở hiện tại:
căn hộ U, chung cư K (Saigon Riverside Complex) địa chỉ số D đường Đ, phường P, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Đức A. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, phương tiện xe máy của U và các địa điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả như sau:
- * Tại nơi ở của U là căn hộ U2.0708, chung cư K (Saigon Riverside Complex) địa chỉ số D đường Đ, phường P, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh và tại hầm để xe, thu giữ: 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Vespa, màu hồng, biển kiểm soát: 59T1 – 866.54 (số khung: RP8M82211FV011881; số máy: 5011742); 02 điện thoại di động (một điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imei: 351344351049868; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu vàng, số I: 357203098366569); 01 cân tiểu ly màu đen, số [...]; 01 hộp giấy màu trắng bên ngoài có dòng chữ “morra”; 01 căn cước công dân số: [...] mang tên Đặng Minh D1, sinh năm: 1993; Nơi thường trú: thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; 01 giấy rút tiền ngân hàng B mang tên Lê Huyền Bảo T2 (BL 05-06; 13).
- * Khám xét và thu giữ trong cốp xe máy hiệu Piagio, loại Vespa, màu hồng, biển kiểm soát: 59T1-866.54 của U để tại hầm xe chung cư Khải Vy Q7 (S): 04 gói nylon bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 gói nylon bên trong chứa 05 viên nén màu xanh (BL 07-08, 14).
- * Tại phòng 617, nhà số C đường N, phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ: 08 gói màu xanh, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 04 gói nylon màu tím bên trong chứa chất bột màu hồng có dòng chữ “BLUEBERRY”; 04 gói nylon màu hồng bên trong chứa chất bột màu vàng có dòng chữ “FULL SPECTRUM, PURE XEN, CANADAGUMMIES, WATERMELON 550MG”; 03 gói nylon màu tím bên trong chứa chất bột màu hồng có dòng chữ “FULL SPECTRUM, PURE XEN, CANADAGUMMIES, GRAPE 550MG”; 01 gói nylon màu trắng cam bên trong chứa chất bột màu trắng có dòng chữ “ROYAL D NATUNAL ORANGE FLAVOURED BEVERAGFWITH MULTIVIAMIN AND MINERAL NATURAL FRUIT POWDERR 100% DAILY SUPPLY VITAMIN C 25G”; 01 cân tiểu ly màu xanh - đen; 01 bình gas mini, loại bình khô màu vàng - xanh có chữ NaMilux L.P.G CARTRIDGE; 01 máy hút chân không màu xanh - đen có chữ “Talon”; 01 máy sấy màu xanh - đen co chữ “goldsun”; 01 đèn trắng có dòng chữ “MEDILAMP”; 01 máy kim loại màu xanh có chữ “PFS”. Plastic Film Sealer; 01 cuộn nylon màu trắng có trọng lượng khoảng 300 gam (BL 09-10, 15).
2. Quá trình điều tra các Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau:
* Bị cáo Trần Đức A khai nhận: Đức A là đối tượng sử dụng ma túy. Từ tháng 12 năm 2022 Đức A sử dụng ma túy dạng thuốc lắc và khay. Để có ma túy sử
dụng và tiền để tiêu xài, Đức A đã mua ma túy dạng thuốc lắc và khay về để sử dụng và bán kiếm lời. Đức A đã ba lần mua các loại ma túy như đã nêu trên, cụ thể:
Lần thứ nhất: Đức A đã mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại TP ., tuy nhiên Đức A không nhớ số lượng và giá cả. Số ma túy này Đức A đã sử dụng và bán hết cho các đối tượng nghiện.
Lần thứ hai và thứ ba: Đức A mua ma túy của Nguyễn Trần Phương U với cách thức mua bán như sau: khi cần mua ma túy, Đức A đã liên lạc với U qua ứng dụng Telegram. Khi hai bên thống nhất về khối lượng ma túy và giá tiền xong thì Đức A sẽ chuyển tiền bằng hình thức chuyển khoản cho U. Đức A dùng các số tài khoản của mình là 9798686868686, 9391999797979 tại Ngân hàng M để chuyển tiền vào số tài khoản của Nguyễn Trần Phương U là 060246910548 tại Ngân hàng S1. Khi U nhận được tiền thì U sẽ gửi ma túy qua dịch vụ vận chuyển của nhà xe Hoa Mai về Vũng Tàu và báo cho Đức A đến nhận.
Với cách thức mua bán như trên, vào ngày 03/5/2023, Đức A đã mua của U nửa lạng ma túy dạng khay với giá 27.000.000 đồng; vào ngày 13/5/2023 Đức A mua của U 500 viên thuốc lắc với giá 60.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đức A mang về nơi ở của mình tại số nhà A đường C, Phường H, TP . và cất giấu trong tủ quần áo trong phòng ngủ của Đức A với mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Đức Anh bán 01 viên thuốc lắc với giá 300.000 đồng (thu lợi nhuận là 180.000 đồng); 01 chấm khay với giá 1.000.000 đồng (thu lợi nhuận là 500.000 đồng).
Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 31 tháng 5 năm 2023, khi Đức A đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 72C2-534.56 đi ngoài đường thì có một thanh niên tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho Đức A qua số I hỏi mua 03 chấm ma túy khay và 05 viên ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc, Đức A đồng ý bán và báo giá tiền là 4.500.000 đồng. N đồng ý mua và hẹn Đức A giao ma túy cho N tại trước chung cư G, địa chỉ A đường H, phường B, thành phố V. Sau đó, Đức A điều khiển xe mô tô về nơi ở của mình để lấy số ma túy đã giao dịch mua bán với N bỏ vào 01 gói nylon dạng túi zíp rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 72C2-534.56 đi đến địa điểm đã hẹn với N để bán ma túy. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 01/6/2023, khi Đức A đứng trước chung cư G địa chỉ A đường H, Phường B, thành phố V thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Trần Đức A khai nhận số ma túy thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ qua khám xét tại nơi ở của Trần Đức A, Đức A mua của Nguyễn Trần Phương U.
Ngoài ra, Đức A còn khai nhận đã trực tiếp đi bán ma túy cho các đối tượng sử dụng ma túy khoảng 10 lần (không rõ họ tên và địa chỉ của những người này),
mỗi lần 01 gói ma tuý khay hoặc 01 viên thuốc lắc. Tiền lời thu được từ việc bán ma túy Đức A đã sử dụng hết cho mục đích cá nhân (BL 199-222).
Địa chỉ A đường C, Phường H, TP ., đây là nhà do Phạm Thu T3 thuê để ở và làm spa; Thu T3 đã cho Trần Đức A và Trà Thị Thanh T4 là nhân viên spa đồng thời là bạn gái của Đức A ở tại phòng bếp của tầng 1. Việc Đức A cất giấu ma túy trong tủ quần áo để sử dụng và bán cho người khác thì Thu T3 và Thanh T4 đều không biết (BL 364-369). Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra Đức A cũng thừa nhận việc sử dụng và mua bán ma túy chỉ một mình Đức A thực hiện, bạn gái Thanh T4 không biết việc này.
* Bị cáo Nguyễn Trần Phương U khai nhận: Phương Uyên có mối quan hệ tình cảm với Nguyễn Duy T5 (sinh năm 1988, trú tại: thôn T, xã K, huyện C, tỉnh BR-VT). Từ tháng 10 năm 2022, Duy T5 đã cho tiền để U thuê căn hộ U2.0708, chung cư K (S) địa chỉ số D Đ, phường P, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh để ở và cho tiền để U tiêu xài cá nhân. Ở cùng với U trong căn hộ này còn có Đặng Minh D1 (B), sinh năm 1993, trú tại: thôn T, xã B, huyện C, tỉnh BR-VT và bạn gái của D1 là Lê Huyền Bảo T2. Đặng Minh D1 là bạn của T5 và U.
Do T5 trả tiền nhà và cho tiền để U sinh hoạt hàng ngày nên tháng 5 năm 2023 U đã giúp T5 bán ma túy. U đã bán ma túy giúp Duy T5 được hai lần, cả hai lần U đều bán cho Trần Đức A vào các ngày 03 và 13/5/2023. Việc thực hiện giao dịch mua bán ma túy giữa Đức A và Phương U được U khai nhận phù hợp với lời khai của Đức A như đã nêu trên. Tuy nhiên, U chỉ thực hiện thỏa thuận mua bán ma túy với Đức A, nhận tiền chuyển khoản của Đức A, sau đó sẽ báo lại cho Duy T5 và chuyển lại tiền cho Duy T5 còn việc Duy T5 chỉ đạo người đi lấy ma túy ở đâu để đóng gói và phương thức vận chuyển về Vũng Tàu cho Đức A như thế nào thì U không biết. Lần đầu bán ma túy cho Đức A vào ngày 03/5/2023 thì T5 đã chỉ đạo Minh D1, lần thứ hai thì U không biết T5 chỉ đạo ai.
Phương Uyên thừa nhận, toàn bộ số ma túy dạng thuốc lắc và khay thu giữ khi cơ quan Công an bắt quả tang và khám xét chỗ ở của Trần Đức A là ma túy U đã bán cho Đức A. Việc U giúp Duy T5 bán ma túy là do U tự nguyện, giữa U và Duy T5, Minh D1 không có bàn bạc, trao đổi gì về việc mua bán ma tuý. Nguồn gốc ma túy mà U bán giúp Duy T5, U cũng không biết Duy T5 mua ở đâu và cất giấu ở chỗ nào.
Đối với số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ tại địa chỉ nơi U ở là căn hộ U, chung cư K (Saigon Riverside Complex); thu giữ trong phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 59T1-866.54 của U và địa chỉ nơi ở của Duy T5 và một số người khác U không rõ nhân thân, lai lịch tại phòng 617, nhà số C đường N, phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh, U khai nhận như sau:
- + 01 gói ma tuý dạng khay thu giữ tại phòng khách tại căn hộ U, chung cư K: gói ma túy này U không biết là của ai vì trong căn hộ này U ở cùng với Đặng Minh D1 và Lê Huyền Bảo T2, U nghĩ có thể là của Đặng Minh D1.
- + 04 gói ma túy khay, và 01 gói nylon chứa 05 viên ma túy thuốc lắc thu giữ trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 59T1-866.54 (là xe của U) để tại hầm chung cư K: Uyên khẳng định số ma túy này không phải của U. Uyên khai: sáng ngày 01/6/2023, do U không có mặt tại căn hộ thuê cùng với D1 nhưng vẫn để chìa khóa xe mô tô ở đây nên D1 đã gọi điện thoại cho U với mục đích gửi nhờ ma túy trong cốp xe, tuy nhiên qua điện thoại U không đồng ý cho D1 cất giấu ma túy trong cốp xe của U. Đến tối cùng ngày, U trở về căn hộ và lấy chìa khóa xe xuống mở cốp xe lấy giấy tờ và đồ vật cần thiết để sáng hôm sau (ngày 02/6/2023) đến Công an thành phố V làm việc liên quan đến hành vi bán trái phép chất ma túy. Khi mở cốp xe máy với mục đích lấy đồ cá nhân nên U cũng không để ý trong cốp xe có những đồ vật gì vì U bỏ nhiều đồ ở trong đó. U cũng không xác định được việc Đặng Minh D1 cất giấu ma tuý trong cốp xe 59T1-866.54 của U ngay sau khi điện thoại cho U hay sau khi U mở cốp lấy đồ đạc cá nhân để xuống thành phố V làm việc.
- + 08 gói ma túy khay và 12 bịch ma túy nước vui thu giữ tại địa điểm phòng 617, nhà số C đường N, phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Căn hộ này là nơi ở của Nguyễn Duy T5 và các đối tượng khác (không rõ họ tên, địa chỉ), U có nghe Duy T5 nói lại căn hộ này là do người đàn ông tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) quản lý cho Duy T5. Toàn bộ số ma tuý Cơ quan Công an thu giữ Uyên nghĩ là của Nguyễn Duy T5, K và các đối tượng ở cùng.
3. Kết luận giám định:
*Kết luận giám định số: 208/KL-KTHS ngày 06/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, đã kết luận về số vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét nơi ở của Trần Đức A vào ngày 01/6/2023 như sau:
- 01 gói nylon chưa chất rắn màu trắng (mẫu A1) có khối lượng 2,0515 gam, là ma túy, loại Ketamine
- 05 viên nén hình tròn màu xanh (mẫu A2) có khối lượng 1,1992 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 14 viên nén màu xanh (mẫu A3) có khối lượng 5,0138 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 22 viên nén màu xanh (mẫu A4) có khối lượng 7,8823 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 40 viên nén màu xanh (mẫu A5) có khối lượng 13,5670 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 280 viên nén hình tròn màu xanh (mẫu A6) có khối lượng 94,6544 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 08 viên nén màu hồng (mẫu A7) có khối lượng 3,5901 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 07 viên nén hình tròn màu xanh có in chữ L,V lồng vào nha (mẫu A8) có khối lượng 2,2888 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 gói nylon chứa 23 viên nén màu xanh không rõ hình (Mẫu A9) có khối lượng 8,2819 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 mảnh viên nén màu xanh (mẫu A10) có khối lượng 0,1398 gam, là ma túy, loại MDMA
- 02 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng (mẫu A11) có khối lượng 30,5388 gam, là ma túy, Ketamine
* Kết luận giám định số: 221/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, đã kết luận về số vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở, phương tiện xe máy của Nguyễn Trần Phương U và 08 gói vật chứng thu giữ tại phòng 617, nhà số C đường N, phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- 01 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt (mẫu A1) có khối lượng 493,32 gam, là ma túy, loại Ketamine
- 04 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu, trong suốt (mẫu A2) có khối lượng 1164,65 gam, là ma túy, loại Ketamine
- 01 gói nylon hàn kín chứa 05 viên nén không rõ hình màu xanh (mẫu A3) có khối lượng 1,8056 gam, là ma túy, loại MDMA
- 01 thùng giấy hình chữ nhật bên trong có chứa 08 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu trong suốt (mẫu A4) có khối lượng 7940,03 gam, là ma túy, loại Ketamine
* Kết luận giám định số: 4128/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã kết luận về số vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét địa điểm cất giấu ma túy tại nơi ở của Nguyễn Duy T5 vào ngày ngày 03/6/2023 như sau: 04 mẫu được niêm phong, gửi giám định đều là ma tuý, loại Ketamine, MDMA, Nimetazepam. Khối lượng mẫu ký hiệu:
- 04 (bốn) gói nylon màu xanh có dòng chữ BLUEBERRY đều chứa chất bột màu hồng (M1): 203,19 gam
- 04 (bốn) gói nylon hồng nhãn FULL SPECTRUM đều chứa chất bột màu vàng (M2): 87,04 gam
- 03 (ba) gói nylon tím, nhãn FULL SPECTRUM đều chứa chất bột màu hồng (M3): 74, 94 gam
- 01 (một) gói nylon cam, nhãn ROYAL chứa chất bột màu trắng (M4): 43,38 gam
Như vậy, căn cứ vào lời khai của các Bị cáo, Kết luận giám định, xác định:
* Tổng khối lượng ma túy mà Trần Đức A và Nguyễn Trần Phương U phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là: 135,4181 gam ma tuý loại MDMA; 30,5388 gam ma tuý, loại Ketamine.
* Khối lượng ma tuý thu giữ: tại nơi ở của U là căn hộ U, chung cư K Q7 là 493,32 gam ma tuý, loại Ketamine; trong cốp xe máy hiệu Piagio, loại Vespa, màu hồng, biển kiểm soát: 59T1-866.54 của U là 1164,65 gam ma tuý, loại Ketamine; 1,8056 gam ma tuý, loại MDMA; tại phòng 6.17, nhà số C đường N, phường B, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh là 7940,03 gam ma tuý, loại Ketamine; 408,55 gam ma tuý, loại hỗn hợp Ketamine, MDMA, Nimetazepam. Phương Uyên khẳng định khối lượng ma túy nêu trên không phải của U. Hiện tại, các đối tượng liên quan đang bỏ trốn nên chưa có tài liệu, chứng cứ gì khác ngoài lời khai của U. Do đó, chưa có cơ sở để kết luận số ma tuý trên là của Nguyễn Trần Phương U.
*Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng:
- Tạm giữ vật chứng:
- + 04 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 353897103657302; 01 điện thoại hiệu Nokia, số I: 3524289057922526; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu tím, số Imei: 351344351049868; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, số I: 357203098366569.
- + 01 xe máy hiệu Honda Vision, màu xanh-đen, biển kiểm soát: 72C2-534.56 (số khung: RLHJK0316NY011001; số máy: JK03E0634415).
- + 01 xe máy biển số 59T1-866.54, nhãn hiệu: PIAGGIO, màu hồng.
- + 02 phong bì niêm phong số: 208/1; 208/2 ngày 08/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B.
- Xử lý vật chứng: không
Số vật chứng: 01 xe máy biển số 59T1-866.54, nhãn hiệu: PIAGGIO, màu hồng tiếp tục tạm giữ tại kho vật chứng của Công an tỉnh B, các vật chứng còn lại được Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04), Công an tỉnh B chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản, chờ xử lý theo Bản án.
Đối với Nguyễn Duy T5, Đặng Minh D1 là các đối tượng có liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã tiến hành xác minh xác định T5, D1 không có mặt tại địa phương nên ngày 03/8/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định truy tìm người, đồng thời áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với 02 đối tượng trên.
Đồng thời có thông tin cho rằng T5, D1 đang ở C nên ngày 25/8/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B có yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự gửi đến Bộ Tư pháp Vương quốc Campuchia vì có thông tin có đối tượng Nguyễn Duy T5 và các đối tượng khác bị bắt giữ về tội phạm liên quan đến ma tuý trên đất nước Campuchia. Hiện nay yêu cầu tương trợ tư pháp chưa có kết quả phản hồi.
Đối với Lê Huyền Bảo T2, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã tiến hành xác minh xác định T2 không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh đối với T2.
Đối với người đàn ông tên K, qua các tài liệu thu thập được xác định K có tên là Nguyễn Gia K1, địa chỉ ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành xác minh xác định: Trên địa bàn xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An không có đối tượng nào tên Nguyễn Gia K1.
Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Duy T5 và các đối tượng khác và đối với số ma tuý chưa rõ nguồn gốc ngày 18/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định tách vụ án hình sự số 79/QĐ-CSMT ngày 19/01/2024 để tiếp tục điều tra về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với số thuê bao 0939870992, ngày 31/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Lệnh thu giữ điện tín, kết quả xác định chủ thuê bao trên là ông Thái Văn L, sinh năm: 1982, trú tại: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành xác minh xác định ông Thái Văn L không có mặt tại địa phương, ông L đi đâu, làm gì không trình báo với chính quyền địa phương.
Đối với các số thuê bao 0896513979, ngày 31/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Lệnh thu giữ điện tín, kết quả xác định chủ thuê bao là Bị cáo Trần Đức A.
Đối với các số thuê bao 0347456782, ngày 31/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Lệnh thu giữ điện tín nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xác định hành vi vi phạm pháp luật sẽ đề xuất xử lý sau.
Đối với số tài khoản 060246910548 tại Ngân hàng S1: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã có công văn yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến số tài khoản trên, kết quả xác định chủ tài khoản trên là Nguyễn Trần Phương U.
Đối với số tài khoản 76210002021171 tại Ngân hàng B: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã có công văn yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến số tài khoản trên. Kết quả xác định chủ tài khoản trên là Nguyễn Cao D2, sinh năm: 1996, trú tại: thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tiến hành xác minh xác định hiện tại Nguyễn Cao D2 không có mặt tại địa phương, chưa có căn cứ xác định D2 hiện đang ở đâu, làm gì.
Đối với các số tài khoản 9391999797979, 9798686868686 mở tại Ngân hàng M1. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã có công văn yêu cầu ngân hàng cung cấp thông tin liên quan đến các số tài khoản trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xác định hành vi vi phạm pháp luật sẽ đề xuất xử lý sau.
Bản cáo trạng số 71/CT-VKS-P1 ngày 04-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Phương U, Trần Đức A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trần Phương U, Trần Đức A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Trần Phương U 20 năm tù; xử phạt Trần Đức A 20 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Luật sư Phạm Quốc D phát biểu bào chữa cho các bị cáo U, A: Luật sư đồng ý với tội danh và điều luật truy tố các bị cáo. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, đồng phạm trong vụ án; các bị cáo tuổi còn nhỏ nhận thức pháp luật chưa đầu đủ, không lường trước hậu quả nghiêm trọng của vụ án; gia đình bị cáo A có công với cách mạng. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Trần Phương U, Trần Đức A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được tại hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Biết bạn trai là Nguyễn Duy T5 buôn bán trái phép chất ma túy và do được T5 trả tiền thuê nhà và cho tiền tiền xài cá nhân nên tháng 5 năm 2023, Nguyễn Trần Phương U đã giúp T5 bán ma túy. Uyên đã hai lần bán ma túy cho Trần Đức A. U là người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận số lượng, giá cả và nhận tiền mua ma túy của Đức A bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận tiền, U chuyển lại cho Duy T5, Duy T5 chỉ đạo người đóng gói và gửi ma túy về TP . cho Đức A. cụ thể:
Lần thứ nhất: ngày 03/5/2023, U thỏa thuận bán cho Đức A nửa lạng ma túy dạng khay với giá 27.000.000 đồng;
Lần thứ hai: ngày 13/5/2023 U thỏa thuận bán cho Đức A 500 viên thuốc lắc với giá 60.000.000 đồng.
Trần Đức A là đối tượng sử dụng ma túy. Để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, Đức A đã mua ma túy dạng khay và thuốc lắc để vừa sử dụng vừa bán kiếm lời. Đức A đã nhiều lần mua ma túy, trong đó có 02 lần mua ma túy của Nguyễn Trần Phương U với tổng khối lượng ma túy như đã nêu trên. Khi mua được ma túy của Phương U, Đức A mang về nơi ở tại địa chỉ A đường C, Phường H, TP . và cất giấu trong phòng ngủ để sử dụng và bán lại cho người khác.
Vào lúc 0 giờ 5 phút ngày 01/6/2023, khi Đức A mang 2,0515 gam ma tuý, loại Ketamine và 1,1992 gam ma tuý, loại MDMA đến trước Chung cư G địa chỉ A H, Phường B, thành phố V đế bán cho một người đàn ông tên N (không rõ họ, địa chỉ) thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.
Theo Kết luận giám định thì tổng khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Trần Đức A là 135,4181 gam ma tuý loại MDMA; 30,5388 gam ma tuý, loại Ketamine. Đây là số ma túy Phương U đã bán cho Đức A. Do đó, Nguyễn Trần Phương U và Trần Đức A phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma túy này.
Do vậy, hành vi bị cáo Nguyễn Trần Phương U, Trần Đức A thực hiện đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm liên quan đến ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành, biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy với khối lượng ma túy lớn. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:
Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, cung cấp thông tin địa điểm cất giấu ma túy để cơ quan điều tra khám xét, thu giữ nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo Anh gia đình có công với cách mạng, có ông nội, ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- + 02 phong bì niêm phong số: 208/1; 208/2 ngày 08/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B là các chất ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 353897103657302; 01 điện thoại hiệu Nokia, số I: 3524289057922526; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu tím, số Imei: 351344351049868; 01 xe máy hiệu Honda Vision, màu xanh-đen, biển kiểm soát: 72C2-534.56 (số khung: RLHJK0316NY011001; số máy: JK03E0634415) thu giữ của các bị cáo là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imei: 357203098366569 thu giữ của bị cáo U không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo U.
- + 01 xe máy biển số 59T1-866.54, nhãn hiệu: PIAGGIO, màu hồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tạm giữ tại kho vật chứng của Công an tỉnh B để phục vụ điều tra trong vụ án khác, không chuyển theo hồ sơ vụ án nên không xem xét.
[7] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trần Phương U, Trần Đức A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Trần Phương U 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2023.
- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trần Đức A 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- + Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong số: 208/1; 208/2 ngày 08/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B;
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại hiệu Iphone, số Imei: 353897103657302; 01 điện thoại hiệu Nokia, số I: 3524289057922526; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu tím, số Imei: 351344351049868; 01 xe máy hiệu Honda Vision, màu xanh-đen, biển kiểm soát: 72C2-534.56 (số khung: RLHJK0316NY011001; số máy: JK03E0634415);
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trần Phương U 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, số I: 357203098366569;
Các vật chứng trên Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 62/BB-CTHADS ngày 07/5/2024.
4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Trần Phương U, Trần Đức A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trần Phương U
