Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NDTP HÀ NỘI

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HSST

Ngày 11/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huy Cương.
  • Các Hội thẩn nhân dân: Ông Lưu Bá Ngọc; Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Oai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 11/6/2024, tại điểm cầu Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và tại điểm cầu Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TL.HSST ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/HSST – QĐ ngày 27/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T

sinh ngày 06/7/1998 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bắt phạm tội quả tang ngày 16/01/2024 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ngân hàng TMCP Q ( viết tắt ngân hàng V1); Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 tòa nhà S số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh;
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Tổng giám đốc;
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Hoàng H1 – Giám đốc Trung tâm quản lý nợ ngân hàng B2, khối quản lý rủi ro ngân hàng bán lẻ; Ông H1 ủy quyền lại cho cán bộ ngân hàng V1 gồm chị Lê Thị N, anh Nguyễn Tài T1 và anh Nguyễn Hải A tham gia tố tụng; Chị N có mặt.
  2. Vợ chồng anh Đặng Văn B1, sinh năm 1990 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1996; Cư trú: Thôn K, xã K, huyện T, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T sinh năm 1998, trú tại: thôn K, xã K, huyện T, Hà Nội làm nghề lái xe taxi. Khoảng 22h ngày 16/01/2024, T đang đậu xe ô tô nhãn hiệu Xpander BKS 29E-016.95 ở khu vực cây xăng K, huyện T, Hà Nội thì nhận được cuộc gọi điện thoại số 0823.918.xxx của một nam thanh niên hỏi mua 04 viên ma túy "kẹo" và 1,5 chỉ ma túy "ke". Lúc này T đang có sẵn 03 viên ma túy "kẹo" và 1,5 chỉ ma túy "ke" nên T nói lại với nam thanh viên là: "Kẹo chỉ còn 03 viên" và thông báo giá tiền là 5.500.000₫ thì nam thanh niên đồng ý mua và hẹn một lúc nữa sẽ gọi điện lại.

Đến khoảng hơn 23h cùng ngày, T nhận được điện thoại của nam thanh niên hẹn mua ma túy, người này bảo T mang ma túy đến khu vực C, tổ A, thị trấn K, T đồng ý và điều khiển xe ô tô đi đến chỗ hẹn. Khi đến nơi, T gặp một nam thanh niên khoảng 22-23 tuổi, T bảo người này vào trong xe ô tô để thực hiện giao dịch mua bán ma túy. Đúng lúc này lực lượng công an huyện T và Công an thị trấn K đi đến kiểm tra, bắt quả tang đối với T về hành vi bán trái phép chất ma túy, còn nam thanh niên mua ma túy đã bỏ chạy không bắt giữ được.

Về tang vật, tài sản tạm giữ:

  • - 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu trắng; 03 túi ni lông màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng thu giữ bên trong xe ô tô của Nguyễn Văn T.
  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander màu sơn trắng, BKS 29E-016.95; số khung MK2LNNC1WLN002991, số máy 4A91HT0274.
  • - 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc, lắp sim số 0366.104.576, số I: 356138091736866.

Về việc giám định chất ma túy:

Tại Bản kết luận giám định số 862/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

  • - 03 viên nén màu trắng đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,336 gam.
  • - Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,772 gam.

Ngày 17/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, kết quả: Không thu giữ tang vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn Văn T bán vào ngày 16/01/2024, T khai nhận:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 14/01/2024 T đã đến khu vực B, V, Ứ, Hà Nội mua 05 viên ma túy "kẹo" và 04 túi ma túy "ke" của một người đàn ông tên là G với giá 5.000.000đ về để sử dụng dần. Sau khi mua được ma túy, T đã sử dụng hết 02 viên ma túy "kẹo" và 01 túi ma túy "ke". Ngày 16/01/2024 khi có người hỏi mua ma túy, T đã đồng ý bán số ma túy còn lại với giá 5.500.000đ. Khi đi đến khu vực C, thị trấn K, T và người mua ma túy đang giao dịch thì bị lực lượng công an bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Đối với người đàn ông tên G đã bán 05 viên ma túy "kẹo", 04 túi ma túy "ke" với giá 5.000.000đ cho Nguyễn Văn T ngày 14/01/2024 tại B, V, Ứ, Hà Nội; T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đàn ông gọi điện hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn T vào ngày 16/01/2024. Quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký sử dụng số điện thoại 0823.918.xxx là chị Nguyễn Thị Kim A1 sinh năm 1995, HKTT: Ấp B, xã T, huyện H, Đồng Tháp. Chị Kim A1 khai không đăng ký và không sử dụng số điện thoại trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được đối tượng mua ma túy của Nguyễn Văn T nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với chất ma túy hoàn lại sau giám định là tang vật của vụ án nên cần chuyển vật chứng để giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Xpander BKS 29E-016.95, Nguyễn Văn T dùng làm phương tiện đi bán ma túy. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe ô tô trên là của vợ chồng chị Nguyễn Thị H2 sinh năm 1996, trú tại: thôn K, xã K, huyện T, Hà Nội (là chị gái của T). Vợ chồng chị H2 mua chiếc xe ô tô trên vào tháng 12/2020 và thỏa thuận cho Nguyễn Văn T thuê làm phương tiện chở khách với số tiền 9.000.000đ/tháng. Sau đó T dùng làm phương tiện để mua bán ma túy. Vì vậy cần phải chuyển Tòa án để giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 6s thu giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định đây là phương tiện T dùng để liên hệ mua bán ma túy. Vì vậy cần phải chuyển Tòa án để giải quyết theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 39/CT – VKS ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Nguyễn Văn T không có ý kiến gì về bản cáo trạng; Khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện ngân hàng V1 đề nghị giao xe ô tô nhãn hiệu Xpander BKS 29E-016.95 cho ngân hàng Q1 và xử lý tài sản đảm bảo vì chị H2 anh B1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay ngân hàng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:
    • Xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù;
    • Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma túy; Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại; Giao xe ô tô cho ngân hàng V1 quản lý, xử lý tài sản đảm bảo vì anh B1 chị H2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cơ bản đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với kết luận giám định vật chứng thu giữ là ma túy và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 16/01/2024, một đối tượng nam giới (chưa xác định được nhân thân) gọi điện, thỏa thuận mua của Nguyễn Văn T 03 viên ma túy kẹo và 1,5 chỉ ma túy ke với giá 5.500.000đ, hai bên hẹn mua bán tại khu vực cây sữa thuộc tổ A thị trấn K, T, Hà Nội. Sau đó, T cất giấu 1,336 gam ma túy loại MDMA; 1,772 gam ma túy loại Methamphetamine trong xe ô tô nhãn hiệu Xpander BKS 29E-016.95 và điều khiển xe đi đến điểm hẹn. Tại đây, khi T và nam thanh niên chưa kịp mua bán ma túy thì bị Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn K kiểm tra, bắt quả tang T cất giấu số ma túy trên trong xe ô tô nhãn hiệu Xpander BKS 29E-016.95 nên đã bắt giữ T, nam thanh niên chạy thoát.

Với hành vi cất giấu ma túy với mục đích mua bán nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự;

Khi lượng hình thấy tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 16/01/2024 nên áp dụng nguyên tắc có lợi, tính thời hạn chấp hành hình phạt tù cho bị cáo từ ngày 16/01/2024.

[3] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo, sau khi giám định được niêm phong vào 1 phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ kí của giám định viên Nguyễn Thị T2, đồng chí Dương Văn H3, đương sự Nguyễn Văn T theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định (BL39).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại thu giữ của bị cáo;

Về xe ô tô Xpander BKS 29E – 016.95 thu giữ của bị cáo thấy:

Bị cáo khai xe ô tô thuê lại của vợ chồng anh Đặng Văn B1 và chị Nguyễn Thị H2 mỗi tháng là 9.000.000đ để lái taxi. Lời khai này phù hợp với lời khai của chị H2, anh B1 tại Cơ quan điều tra. Ngoài ra chị H2 anh B1 còn khai xe thế chấp cho ngân hàng V1 để vay 440.000.000đ vào ngày 14/12/2020. Anh B1 chị H2 khai không biết việc bị cáo mua bán ma túy trên xe nên đề nghị cho xin lại xe ô tô.

Ngân hàng V1 có quan điểm anh B1 chị H2 vay 440.000.000đ ngày 14/12/2020 và thế chấp xe ô tô trên để đảm bảo khoản vay, tính đến ngày 08/5/2024 dư nợ gốc còn phải trả là 270.208.898đ và ngân hàng đã chuyển toàn bộ số dư nợ trên sang nợ quá hạn, do vậy đề nghị Tòa án giao xe cho ngân hàng để xử lý tài sản đảm bảo.

Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14/12/2020 giữa ngân hàng V1 chi nhánh B3 - PGD Nguyễn Cơ T3 và anh Đặng Văn B1, chị Nguyễn Thị H2 về việc anh B1 chị H2 vay ngân hàng 440.000.000đ; Hợp đồng thế chấp số [...] ngày 14/12/2020 ngân hàng V1 chi nhánh B3 – PGD Nguyễn Cơ T3 và anh Đặng Văn B1, chị Nguyễn Thị H2 về việc anh B1, chị H2 thế chấp xe ô tô Xpander BKS 29E – 016.95 để đảm bảo khoản vay không liên quan đến vụ án này. Nếu có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Do vậy, không chấp nhận yêu cầu giao xe ô tô cho ngân hàng V1 quản lý.

Tài liệu trong hồ sơ thể hiện xe đứng tên chị Nguyễn Thị H2, xe không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng, anh B1 chị H2 không biết bị cáo phạm tội khi sử dụng xe nên trả lại xe ô tô cho anh B1 chị H2.

[4] Về hình phạt bổ sung: Tài liệu điều tra thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Nguyễn Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2024.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn lại sau giám định của Phòng PC09 – Công an T có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn T, đồng chí Dương Văn H3 và giám định viên tại các mép dán.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone 6s màu xám, lắp sim V2 số 0366.104.576, số IMEI: 356138091736866.
    • - Trả lại anh Đặng Văn B1 và chị Nguyễn Thị H2 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu XPANDER, màu sơn trắng, đeo BKS 29E-016.95, số khung: MK2LNNC1WLN00291, số máy: 4A91HT0274.

    Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội theo Biên bản về việc giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng, tài sản lập ngày 26/4/2024.

  4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) - án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ngân hàng TMCP Q (V1) có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vợ chồng anh Đặng Văn B1 và chị Nguyễn Thị H2 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Thanh Oai;
  • - Công an huyện Thanh Oai;
  • - Chi cục THA DS huyện Phúc Thọ;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Thanh Oai;
  • - Lưu hồ sơ và văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Huy Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T-tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger