|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HSST Ngày: 10/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng; Ông Tẩn A Sếnh
Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/HSST, ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST –HS, ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 195/2024/TB-TA ngày 24/6/2024 đối với bị cáo:
Lù Văn B - Sinh năm: 2002; Sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Ta Pưn, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lù Văn T – Sinh năm: 1974; Con bà: Lù Thị D – Sinh năm: 1975; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L – Có Mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 01/02/2024, Lù Văn B đi bộ từ nhà ra trung tâm xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu chơi. Khi B đi đến đầu cầu N, bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không rõ tên, địa chỉ. Qua trao đổi về việc mua Heroine B1 đã mua được của người đàn ông này 01 gói Heroine ( gói bằng mảnh ni lon màu vàng) với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine Bưởi lấy một ít ra sử dụng (hít). Phần còn lại B1 gói lại cất giấu vào túi quần bên phải rồi đi về nhà. Vào khoảng 18 giờ cùng ngày, B1 mang theo gói Heroine ra trung tâm xã N, khi B1 đi đến khu vực bản Noong Hẻo 2, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của B1 01 gói bột màu trắng, được gói mảnh ni lon màu vàng. Bưởi khai đây là Heroine của bưởi, B1 đem đi để sử dụng (hít)
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số 18, ngày 02/02/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn B có khối lượng là 0,15 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 215/GĐ-KTHS, ngày 03/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn B gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Cáo trạng số: 32/CT- VKS, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xử phạt bị cáo Lù Văn B từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh ni lon màu vàng.
Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 249 BLHS, tuyên bố bị cáo Lù Văn b phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Điều tra thiết lập. Bị cáo nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 18 giờ 00 phút, ngày 01/02/2024, tại nhà bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, Công an huyện S đã phát hiện bắt quả tang Lù Văn B đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,15 gam. Lù Văn B tàng trữ 0,15 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân (hít). Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam Heroine của Lù Văn B với mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 32/CT – VKS, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Lù Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán Heroine cho Lù Văn B, B không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý lý đối với người này.
[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 01 mảnh ni lon màu vàng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy.
[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và một phần ý kiến của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.
- Tuyên bố bị cáo Lù Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lù Văn B 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 01/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh ni lon màu vàng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 15/5/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn B.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Ký tên, đóng dấu) |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào 18 giờ ngày 01/02/2024, tại bản Noong Hẻo, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Công an huyện Sìn Hồ đã phát hiện bắt quả Tang Lò Văn B đang có hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroine, B tàng trữ với mục đích để sử dụng.
