Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

—————————

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Giáp Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sửu; Ông Nguyễn Văn Kiểm.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Hà Đăng Chương - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 13/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 10/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Giáp Đình T, sinh năm 2001 (Tên gọi khác: Không); nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Văn H, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại quyết định xử phạt hành chính số 20 ngày 08/8/2018 của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh B xử phạt Giáp Đình T 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nộp phạt xong ngày 08/8/2018; Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

2. Họ và tên: Dương Văn C, sinh năm 1993 (Tên gọi khác: Không); nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H1, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị H2, sinh năm 1968, vợ Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1999; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2016/HSST ngày 20/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Dương Văn C 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 23/3/2016, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/5/2016; Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

3. Họ và tên: Giáp Mạnh Q, sinh năm 2001 (Tên gọi khác: Không); nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Đình T3, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị can đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hoàng Thế A, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  2. Thân Văn Q1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  3. Nguyễn Thị C1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  4. Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  5. Huỳnh Văn N, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
  6. Giáp Văn H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  7. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 14/02/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyện T phối hợp với Công an xã H tiến hành kiểm tra nhà ông Giáp Văn H, ở tại thôn L Trên, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong phòng cuối của tầng 2 có các đối tượng Giáp Đình T, Dương Văn C, Hoàng Thế A, Thân Văn Q1 đang ở trong nhà. Trên đầu giường trong phòng tầng 2 có 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, có số seri: MO17806456 và 01 thẻ ATM của Ngân hàng M1, trên mặt thẻ có in chữ “GIAP DINH TRANG".

Các đối tượng khai nhận vừa thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng đầu tiên bên trái tầng 2, ma túy do T và C góp tiền mua cho tất cả cùng sử dụng.

Quá trình bắt quả tang thu giữ trên nền gạch trong phòng ngủ đầu tiên của tầng 2 chiếc cốc thủy tinh, trên mặt cốc có chữ “BAO VIET Life”. Thu giữ trên nền gạch, cạnh chiếc loa đặt trong phòng ngủ đầu tiên của tầng 2 một túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong không đựng gì. Thu giữ trên nền gạch phía cuối giường trong phòng ngủ đầu tiên của tầng 2 một

chiếc loa nhãn hiệu Samsung. Thu giữ tại đầu giường trong phòng ngủ thứ hai tầng 2 hai chiếc đèn màu đen, trên mỗi chiếc đều có chữ “LASER SHOW SYSTEM”. Thu giữ tại đầu giường đặt trong phòng ngủ thứ hai tầng 2 một thẻ ngân hàng MB, trên mặt thẻ có chữ “GIAP DINH TRANG”. Thu giữ trên nền gạch trong phòng ngủ đầu tiên tầng 2 hai vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, thân chai dán nhãn màu xanh có chữ “pepsi”, bên trong không đựng gì. Thu giữ tại đầu giường đặt trong phòng ngủ thứ hai tầng 2 một tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri: MO17806456. Thu giữ tại nền gạch nhà vệ sinh tầng 2 phía sau bồn cầu các mảnh đĩa sứ màu trắng. Các vật chứng thu giữ được niêm phong có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong và dấu của Công an xã H.

Hoàng Thế A giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám, biển kiểm soát: 98N8-3360, số khung: 145850, số máy: 0276415 (xe đã kiểm tra, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan). 01 đăng ký mô tô, xe máy số 003813 mang tên Nguyễn Thị C1.

Giáp Đình T giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 43K1-597.03, số khung: RLCE55P10DY224530, số máy: 55P1224551 (xe đã kiểm tra, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan); 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 43 000108 mang tên Huỳnh Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, số IMEI: 350879900440762, lắp sim số: 0326.825.933; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số IMEI: 359732435916601, lắp sim số: 0857.892.001; Hai chiếc điện thoại được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Tráng” có hình dấu của Công an xã H, cùng chữ ký và tên của những người tham gia.

Dương Văn C giao nộp 0 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ, số IMEI: 353081101341728, lắp sim số: 0826.661.992 được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “ĐT Cương” có hình dấu của Công an xã H và chữ ký cùng tên của người tham gia.

Thân Văn Quân giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số IMEI: 353032119232680, lắp sim số: 0888.597.825 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “ĐT Q1” có hình dấu của Công an xã H và chữ ký của người tham gia.

Ngày 15/02/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Giáp Đình T, ở thôn L Trên, xã H, huyện T, kết quả: Không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra Giáp Đình T, Dương Văn C thừa nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/02/2024, T cùng Hoàng Hữu T5, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang đi chơi hội tại xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; T và T5 chơi đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày thì T5 có gọi điện thoại cho Giáp Mạnh Q, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang hỏi Q đang ở đâu thì Q nói đang ở hội xã M uống bia, thấy vậy T và T5 đến chỗ Q đang ngồi uống bia; khi đến nơi thấy Q đang uống bia cùng Dương Văn C, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì T và T5 vào uống bia cùng với C và Q; khi đang uống bia T nói

với C và Q muốn đi lên quán K ở thị trấn C sử dụng ma túy; C nói tao chỉ có một triệu, còn Q nói không có tiền. Một lúc sau T, C, Q và T5 uống bia xong ra về, khi lấy xe Tráng có nói với Q cứ đi đi để anh lo (Q hiểu ý là T rủ Q đi sử dụng ma túy tiền mua ma túy T lo), Q đồng ý. Khi từ hội đi về, T ngồi sau xe của T5, còn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh, biển kiểm soát 98H1-217.88 (Quyết mượn của Nguyễn Xuân T6) chở C. Khi đi đến đoạn ngã 3 thôn T, xã H, huyện T thì T5 ra về, còn T sang ngồi xe cùng Q và C. Q điều khiển xe chở T và C đi lên thị trấn C; khi đến cây xăng ở phố B, thị trấn C thì Q dừng xe lại để đi vệ sinh, lúc này T sử dụng điện thoại gọi vào số điện thoại 0977.157.xxx cho D (biệt danh Dũng M) ở xã N, huyện T hỏi mua 01 chỉ ma túy Ketamine và 01 viên ma túy tổng hợp MDMA thì D đồng ý bán với giá 1.700.000 đồng và hẹn giao ma túy tại cửa Công ty K1 thuộc thị trấn C, huyện T. Sau đó, Q lại điều khiển xe chở T và C đi đến cửa quán K nhưng quán đóng cửa. T bảo Q và C đi sang cổng Công ty K1 đợi có người giao ma túy thì nhận. Q điều khiển xe mô tô chở C đi sang cổng Công ty K1 đợi lấy ma túy, còn T đứng ở sườn đường cửa quán K. Một lúc sau có số điện thoại 0945.279.xxx gọi cho T hỏi T đang ở đâu để giao ma túy thì T bảo T đang ở sườn đường cổng quán karaoke 368, sau đó có một người đàn ông đeo khẩu trang đi xe Honda wave màu xanh đến đưa cho T 01 bao thuốc lá “Thăng Long” màu vàng, bên trong có chứa ma túy nên T cầm vỏ bao thuốc lá và đưa cho người đàn ông số tiền 1.700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T gọi điện thoại cho Q nói đã lấy được hàng rồi, về bên này. Q điều khiển xe chở C quay lại quán K, C đưa cho T 1.000.000 đồng, sau đó T, C và Q ra quán nước ở đoạn đường đôi khu Đô thị A, thị trấn C ngồi uống nước. Tại đây, T gọi điện thoại cho Giáp Văn C2, ở thôn T, xã C, huyện T hỏi số điện thoại của chủ quán K để liên lạc đặt phòng hát, C2 cho T số điện thoại của chủ quán Karaoke 368 nhưng T gọi không liên lạc được, T rủ C, Q về nhà T ở thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang để sử dụng ma túy, C và Q đồng ý. Cả ba đi ra cửa quán, T lấy số ma túy vừa mua được gói trong khẩu màu trắng đưa cho C cầm và vứt vỏ bao thuốc lá Thăng L1 đi để T điều khiển xe mô tô, T điều khiển xe mô tô chở C và Q về nhà T tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang để lấy loa và đèn để sử dụng ma túy sau đó nhẩy, khi về đến nhà T thì T đưa loa cho Q và C chở, còn T đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 43K1-597.03 chở bàn DJ và đèn ra nhà của T tại thôn L, xã H, huyện T. Khi ra đến nhà Tráng lúc này khoảng 18 giờ, C và Q đem loa lên tầng 2, còn T đi mua nước về để pha ma túy. Một lúc sau, T mua 02 chai nước pepsi về và lấy 01 chiếc đĩa sứ ở tầng 1 mang lên tầng 2 để trên giường để sử dụng ma túy, Q xuống tầng 1 mang cốc nước lên tầng 2, T lắp loa bật nhạc, còn Q lắp đèn, do bàn DJ không sử dụng đến nên T để sang phòng bên cạnh. Chuẩn bị xong, T lấy ma túy ra dùng chai nước ngọt giã viên ma túy dạng kẹo trong túi nilon rồi đổ vào cốc, cho nước ngọt pepsi vào khuấy đều lên, T uống, sau đó T đưa cốc cho C và Q uống. Q dùng bật lửa hơ đĩa, T lấy tờ tiền 500.000 đồng để quấn thành dạng ống cố định hai đầu bằng vỏ

đầu lọc thuốc lá làm ống hít ke, T cho ma túy ketamine vào đĩa sứ và dùng thẻ ATM của T miết nhỏ ma túy (xào ke) và chia thành các đường nhỏ (kẻ ke), C dùng ống hút sử dụng ma túy, sau đó đưa cho Q, T sử dụng. Một lúc sau, T bảo Q gọi điện thoại cho Hoàng Thế A, trú tại thôn T, xã H, huyện T đến sử dụng ma túy nhưng Thế A không nghe máy, sau đó T gọi lại cho Thế A qua M thì Thế A nghe máy, T rủ Thế A đến sử dụng ma túy, Thế A đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Thế A đến sử dụng ma túy. Sau đó T gọi điện thoại cho Thân Văn Q1, trú tại thôn D, xã M, huyện L rủ Q1 đến nhà T chơi, Q1 đồng ý nhưng nói không có xe và bảo T lên hội thôn H, xã H đón, T đồng ý, T bảo Q đi đón Q1, Q điều khiển xe mô tô chở T nhưng trên đường đi T6 gọi điện thoại cho Q đòi xe nên Q đón T6 để trả xe. Sau khi đón T6 xong quay sang đón Q1 về nhà T, Q chở T, Q1, T6 về nhà T, khi về đến cửa nhà T thì T6 và Q đi về, còn Q1 và T lên tầng 2 vào phòng thấy C và Thế A đang nằm ở giường, còn ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để ở giữa giường, Q1 biết mọi người đang sử dụng ma túy nên Q1 ngồi xuống giường lấy ống hút được quấn bằng tờ tiền để sử dụng ma túy, sau đó T, C, Q1 và Thế A sử dụng hết số ma túy các đối tượng nằm chơi nghe nhạc. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày thì thấy có người gọi cửa Thế A xuống mở cửa, C mang đĩa vào nhà vệ sinh vứt vào phía sau bồn cầu, T cầm thẻ cứng và tờ tiền cùng Q1 đi sang phòng cuối tầng 2 để ở đầu giường thì lực lượng Công an vào kiểm tra, phát hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ các vật chứng liên quan.

Ngày 15/02/2024, Giáp Mạnh Q đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Cơ quan điều tra triệu tập Giáp Văn C2 đến làm việc. C2 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen có số IMEI 353116100959839, lắp sim số 0823.332.023 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “ĐT C2”. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của T, Q1, C, Thế A, Q. Kết quả: Tráng, Q1, C, Thế A, Q đều dương tính với ma túy. Cơ quan điều tra lấy mẫu nước tiểu của T, Q1, C, Thế A, Q và C2 được niêm phong trong các chai nhựa màu trắng ký hiệu "Tráng", "Cương", "Thế A", "Q1", "C2", “Q”.

Ngày 15/02/2024, Công an huyện T trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh B giám định số vật chứng thu giữ khi bắt quả tang và mẫu nước tiểu. Tại kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  • + Trong 01 hộp giấy có ký hiệu “Cốc” đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA trong 01 cốc thuỷ tinh, trên mặt cốc có chữ "BAO VIET Life", không xác định được khối lượng.
  • + Trong 01 phong bì có ký hiệu "Túi ni lon" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ, không xác định được khối lượng.
  • + Trong 01 phong bì có ký hiệu "Thẻ" đã được niêm phong gửi giảm định: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 thẻ ngân hàng M2, trên mặt thẻ có chữ "GIAP DINH TRANG", không xác định được khối lượng.
  • + Trong 01 phong bì có ký hiệu "Tiền Tráng" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng có số Seri MO17806456, không xác định được khối lượng.
  • + Trong 01 hộp giấy có ký hiệu "Đĩa" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên các mảnh đĩa sứ màu trắng.
  • + Trong các mẫu nước tiểu được niêm phong trong các chai nhựa màu trắng ký hiệu "Tráng", "Cương", "Thế A", "Q1", "C2", Q" gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy MDMA và chất Norketamine, D1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) ký hiệu "Tráng", "Cương" và "Q1". Tìm thấy chất N1, D1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) ký hiệu "Thế Anh", "Quyết". Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) ký hiệu "Chiến".

Ngày 16/02/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera tại cửa hàng B thuộc TDP Đ, thị trấn C, huyện T, trích xuất 03 file dữ liệu video từ 02 camera của quán sau đó lưu trữ vào thẻ nhớ, tiến hành niêm phong theo quy định.

Ngày 16/3/2024, Nguyễn Xuân T6 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh được lắp biển kiểm soát 98H1-217.88.

Ngày 03/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số Phòng K2 Công an tỉnh B giám định dữ liệu video thu giữ. Tại Kết luận giám định số 868 ngày 19/4/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong thẻ nhớ Micro SD gửi giám định. Trích xuất được 22 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám. Cơ quan điều tra đã cho T xem những hình ảnh trong dữ liệu trích xuất camera,T nhận ra xe mô tô Q đưa T và C đến quán K và thanh niên đi wave trắng là người giao ma túy cho T.

Cơ quan điều tra thu giữ điện tín 03 số điện thoại gồm số 0857.892.xxx; 0945.279.007 và 0977.157.071. Kết quả số điện thoại 0867.892.xxx là số điện thoại chính chủ của Tráng, số điện thoại 0945.279.xxx được đăng ký tên Nguyễn Tiến V, trú tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, số điện thoại 0977.157.xxx đăng ký tên Trần Văn T7, trú tại thôn G, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa bàn xã Y, huyện Ý hiện không có người nào có tên là Nguyễn Tiến V, xác minh tại thôn G, xã V, huyện T hiện Trần Văn T7 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra không làm việc được với Trần Văn T7 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông tên D, T khai không quen biết, T có số điện thoại của người bán ma túy là do ngày 12/02/2024, T đi hát cùng với Giáp Văn C2, T

hỏi C2 xem có biết ai bán ma túy không thì C2 hỏi nhân viên quán hát thì được nhân viên quán hát đọc cho T số điện thoại và nói tên là D nhà ở N (thường gọi D móm), T không biết địa chỉ cụ thể và người đàn ông đi xe mô tô nhãn hiệu Honda wave trắng giao ma túy cho T đeo khẩu trang T không biết tên, tuổi, địa chỉ.

Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín và tiến hành rà soát đối tượng. Kết quả, không xác định được 02 đối tượng bán ma túy cho T là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Giáp Văn C2 nhưng C2 không thừa nhận C2 là người đã hỏi số điện thoại của người bán ma túy cho T và không biết T mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho T đối chất với C2, kết quả T và C2 đều khẳng định C2 chỉ cung cấp số điện thoại của chủ quán hát cho T để T đặt phòng hát, C2 không có số điện thoại của D và không cung cấp số điện thoại của D cho T, ai là người cung cấp số điện thoại của người bán ma túy cho T thì C2 không biết, bản thân T không nhớ ai đã đọc số điện thoại của người bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với C2.

Đối với ông H và bà T1 là bố, mẹ đẻ của T không biết việc T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình nên ông H, bà T1 không vi phạm pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T, C, Q, Q1 và Thế A, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện T để xử phạt hành chính theo quy định.

Vật chứng của vụ án gồm: Đối với 01 chiếc cốc thủy tinh, trên mặt cốc có chữ “BAO VIET Life”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong không đựng gì, 01 thẻ ngân hàng MB, trên mặt thẻ có chữ “GIAP DINH TRANG”, 02 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, thân chai dán nhãn màu xanh có chữ “pepsi”, bên trong hai chai không đựng gì, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri: MO17806456, các mảnh đĩa sứ màu trắng đều là công cụ các bị can sử dụng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với chiếc 02 chiếc đèn màu đen đã qua sử dụng, trên mỗi chiếc đều có chữ “LASER SHOW SYSTEM” là tài sản của T sử dụng vào việc sử dụng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám, biển kiểm soát 98N8-3360, số khung: 145850, số máy: 0276415; 01 đăng ký mô tô, xe máy số 003813 mang tên Nguyễn Thị C1, biển số đăng ký: 98N8-3360 là tài sản của bà Nguyễn Thị C1, trú tại thôn T, xã H, huyện T là mẹ đẻ của Thế A, bà C1 cho Thế A mượn xe nhưng không biết Thế A đi sử dụng ma túy nên bà C1 không vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho bà C1.

Đối với chiếc loa màu đen đã qua sử dụng, nhãn hiệu Samsung; 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng biển kiểm soát 43K1-597.03, số khung: RLCE55P10DY224530, số máy: 55P1224551; 01 chứng nhận

đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 43000108 mang tên Huỳnh Văn N, biển số đăng ký: 43K1-597.03. T khai T đi cùng với bạn tên là T8 giới thiệu mua chiếc xe mô tô này của anh Huỳnh Văn N tại một quán cà phê ở thành phố Đà Nẵng. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô tô được đăng ký tên Huỳnh Văn N, anh N khai anh đã bán chiếc xe này cho một người tên là T8 không biết họ, tên đệm và địa chỉ đi cùng với một người thanh niên anh N không quen biết tại quán cà phê ở thành phố Đà Nẵng. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu xác định chiếc xe mô tô này không có trong sơ sở dữ liệu vật chứng. Ông Giáp Văn H và T xác định chiếc xe mô tô này là do ông H bỏ tiền ra nhờ T mua hộ để làm phương tiện đi lại. Ngày 14/02/2024 T tự ý lấy xe mô tô đi và lấy chiếc loa ra nhà ngoài để nghe nhạc mà không hỏi gì ông H, nên ông H không biết T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI: 350879900440762, lắp sim số: 0326.825.933 là điện thoại của T không sử dụng vào việc phạm tội. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 359732435916601, lắp sim số: 0857.892.001 là điện thoại T sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ, số IMEI: 353081101341728, lắp sim số: 0826.661.992 là tài sản của Dương Văn C, không sử dụng vào việc phạm tội. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 353032119232680, lắp sim số: 0888.597.825 là điện thoại của Q1 không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho Q1.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh được lắp biển kiểm soát 98H1-217.88 là tài sản của Nguyễn Xuân T4, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Ngày 14/02/2024, T4 để xe ở nhà cho Nguyễn Xuân T6 mượn, sau đó T6 cho Q mượn để đi chơi hội, T4 và T6 không biết việc Q sử dụng xe đi mua ma túy về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên T4 và T6 không vi phạm pháp luật, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh T4.

Tại Cơ quan điều tra, Giáp Đình T, Dương Văn C, Giáp Mạnh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 09/7/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố Giáp Đình T, Dương Văn C, Giáp Mạnh Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo Giáp Đình T, Dương Văn C, Giáp Mạnh Q đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tôi của mình như Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát trình bầy luận tội:

Căn cứ, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 04 tháng tù về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.

Căn cứ, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo C từ 07 năm 02 tháng đến 07 năm 03 tháng tù về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.

Căn cứ, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Q từ 07 năm đến 07 năm 02 tháng tù về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cốc thủy tinh, trên mặt cốc có chữ “BAO VIET Life"; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong không đựng gì; 02 chiếc đèn màu đen, trên mỗi chiếc đều có chữ “LASER SHOW SYSTEM"; 01 thẻ ngân hàng MB, trên mặt thẻ có chữ “GIAP DINH TRANG”; 02 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, thân chai dán nhãn màu xanh có chữ “pepsi”; các mảnh đĩa sứ màu trắng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp sim số 0857.892.001.

Trả lại bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, lắp sim số 0326.825.933, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại bị cáo C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ, lắp sim số: 0826.661.992, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại ông H 01 chiếc loa màu đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 43K1-597.03 và 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Huỳnh Văn N.

Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xử cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không ai có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan, phù hợp về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có

căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 00 phút đến 22 giờ 15 phút ngày 14/02/2024 tại nhà ở của ông Giáp Văn H, ở tại thôn L Trên, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Giáp Đình T, Dương Văn C và Giáp Mạnh Q đã thực hiện hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy và còn ổ chức cho Hoàng Thế A, Thân Văn Q1 sử dung trái phép chất ma túy. Các đối tượng sử dụng đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện T phối hợp với Công an xã H kiểm tra bắt quả tang.

Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà T, C, Q thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố các bị cáo Giáp Đình T, Dương Văn C, Giáp Mạnh Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; là có căn cứ.

[3] Đánh vai trò của các bị cáo: Bị cáo T là người rủ dê C và Q sử dụng ma túy, bỏ tiền mua ma túy, chuẩn bị công cụ, địa điểm để cùng C, Q sử dụng trái phép ma túy. Do đó, T giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo C góp tiền cùng T mua ma túy, cùng T đi lấy công cụ và cùng T, Q sử dụng trái phép ma túy. Do đó, C là đồng phạm và giữ vai trò thứa hai trong vụ án. Bị cáo Q cùng T đi lấy công cụ và cùng T, C sử dụng trái phép ma túy. Do đó, Q là đồng phạm và giữ vai trò thứa b trong vụ án.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo Q đầu thú và có thời gian tham gia Quân đội được tặng thưởng giấy khen, nên Q được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, nên các bị cáo phải bị xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người biết tuân thủ pháp luật.

Bị cáo T là người có nhân thân sấu do đã bị Công an tỉnh B, xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” ngày 08/8/2018 với mức tiền 350.000 đồng, đã nộp tiền phạt. Bị cáo C là người có nhân thân sấu do đã bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong án phạt tù và án phí. Bị cáo Q là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì. Tuy nhiên do các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 Bộ luật hình sư đối với các bị cáo. Song, các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng

trách nhiệm hình sự nào và đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Q còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình, nên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình. Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, song do các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc cốc thủy tinh, trên mặt cốc có chữ “BAO VIET Life"; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong không đựng gì; 02 chiếc đèn màu đen, trên mỗi chiếc đều có chữ “LASER SHOW SYSTEM”; 01 thẻ ngân hàng MB, trên mặt thẻ có chữ “GIAP DINH TRANG”; 02 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, thân chai dán nhãn màu xanh có chữ “pepsi” bên trong không đựng gì; các mảnh đĩa sứ màu trắng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp sim số 0857.892.001 là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, nhưng có giá trị nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh, lắp sim số 0326.825.933 là tài sản của bị cáo T; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đỏ, lắp sim số 0826.661.992 là tài sản của bị cáo C, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 chiếc loa màu đen, nhãn hiệu Samsung, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 43K1-597.03 và 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy tên Huỳnh Văn N là tài sản của ông Giáp Văn H mua, bị cáo T lấy đi sử dung ông H không biết, nên trả lại cho ông H.

[7] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

  • + Xử phạt Giáp Đình Tráng 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.

Căn cứ, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

  • + Xử phạt Dương Văn C 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.

Căn cứ, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

  • + Xử phạt Giáp Mạnh Quyết 07 (bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/02/2024.

2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy 01(một) chiếc cốc thủy tinh, trên mặt cốc có chữ “BAO VIET Life” được niêm phong trong hộp giấy có ký hiệu “cốc” được gián bằng các dải niêm phong có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong và dấu của Công án xã H; 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong không đựng gì được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Túi nilon”; 02 (hai) chiếc đèn màu đen đã qua sử dụng, trên mỗi chiếc đều có chữ “LASER SHOW SYSTEM”; 01 (một) thẻ ngân hàng M1, trên mặt thẻ có chữ “GIAP DINH TRANG” có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong và dấu của Công án xã H; 02 (hai) vỏ chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, thân chai dán nhãn màu xanh có chữ “pepsi” bên trong hai chai không đựng gì; các mảnh đĩa sứ màu trắng được niêm phong trong hộp giấy có ký hiệu “Đĩa” được gián bằng các dải niêm phong có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong và dấu của Công án xã H.
  • + Tịch thu sung quý nhà nước 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, số seri: MO17806456 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Tiền tráng” có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong và dấu của Công án xã H; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 359732435916601, lắp sim số: 0857.892.001 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Điện thoại Tráng” có hình dấu của Công an xã H, cùng chữ ký và tên của những người tham gia.
  • + Trả lại Giáp Đình T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI: 350879900440762, lắp sim số: 0326.825.933 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Tráng” có hình dấu của Công an xã H, cùng chữ ký và tên của những người tham gia. Trả lại Dương Văn C 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ, số IMEI: 353081101341728, lắp sim số: 0826.661.992 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Cương” có hình dấu của Công an xã H, cùng chữ ký và tên của những người tham gia, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + Trả lại ông Giáp Văn H 01 (một) chiếc loa màu đen đã qua sử dụng, nhãn hiệu Samsung; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng đã qua sử dụng, biển kiểm soát 43K1-597.03, số khung: RLCE55P10DY224530, số máy: 55P1224551 (xe đã kiểm tra, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì có liên quan); 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 43000108 mang tên Huỳnh Văn N, biển số đăng ký: 43K1-597.03.

3. Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngay được giao nhận hoặc niêm yết công khai bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Giáp Quang Huy

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giáp Đình Tr - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger