|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 08-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Minh - Giáo viên nghỉ hưu.
Bà Đồng Thị Mây - Giáo viên trường Tiểu học thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành.
-
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Lê Thị Vui- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số /2024/TB-TA ngày 03/8/2024 đối với các bị cáo:
-
Đoàn Đức H
, sinh ngày 15/12/2006 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đội B, thôn B, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện nay: thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Đoàn Thị L;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn giao cho người giám sát. Có mặt tại phiên tòa.
-
Phạm Huy K
, sinh ngày 07/7/2007 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.Nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Đoàn Thị Đ;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn giao cho người giám sát. Có mặt tại phiên tòa.
-
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đoàn Đức H: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1964. (Có mặt tại phiên tòa)
Trú tại: thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
-
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Huy K: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1985.(Có mặt tại phiên tòa)
Trú tại: thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
-
- Người bào chữa cho bị cáo H và bị cáo K: bà Lê Thị Thu H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.(Có mặt tại phiên tòa)
-
- Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã L: Ông Đoàn Minh S- Bí thư Đoàn.(Vắng mặt tại phiên tòa)
-
- Người làm chứng: cháu Đồng Sinh H2, cháu Nguyễn Thu H3 (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 01/2024, Đoàn Đức H và Phạm Huy K bàn bạc cùng nhau góp tiền mua nguyên liệu để làm thuốc pháo và pháo nổ, với mục đích cùng sử dụng đốt vào dịp Tết Nguyên đán. K góp 100.000 đồng đưa cho H. H vào mạng xã hội tìm hiểu cách thức làm thuốc pháo, pháo nổ và đặt mua các loại bột lưu huỳnh, Kali clorat, N và than với giá 250.000 đồng. Sau đó, H và K đi mua 01 ống màng nilon màu trắng bọc thực phẩm; 01 lọ keo 502; 01 lọ keo dán giấy loại keo khô nắp màu xanh; 01 cuộn băng dính màu đen; giấy và sách, báo cũ với tổng số tiền là 150.000 đồng. Ngoài ra, H còn chuẩn bị 01 ống nhựa màu xám dài 26cm, đường kính 2cm; 01 thìa nhựa màu da cam dài 14cm; 01 phễu nhựa màu hồng đường kính lớn nhất 10,5cm; 01 hộp nhựa trong suốt, kích thước (17x11x7,5) cm và 01 kéo bằng kim loại (là đồ dùng của H đã mua từ trước). H để các nguyên liệu và dụng cụ nêu trên ở gian bếp cũ (không sử dụng) của gia đình H. Trong các ngày 16, 17/01/2024, H pha trộn các chất bột nêu trên theo hướng dẫn trên mạng tạo thành thuốc pháo cho vào trong hộp nhựa; dùng kéo cắt giấy, báo thành các đoạn dài, có kích thước khác nhau, dùng ống nhựa nêu trên đặt lên các tờ giấy cuộn thành hình trụ tròn có đường kính khác nhau, gắn keo cố định và dùng băng dính đen cuộn tròn bên ngoài, rút ống nhựa ra tạo thành lõi rỗng; dùng mùn gỗ bịt kín một đầu, nhỏ keo 502 để cố định lại tạo thành đế pháo; dùng thìa nhựa xúc thuốc pháo cho vào lõi cuộn giấy. H chế tạo dây dẫn cháy bằng cách quấn nhiều lớp màng nilon bọc thực phẩm vào thuốc pháo tạo thành dây dài rồi cắt khúc dài khoảng 5-7cm, cho đoạn dây dẫn vào đầu chưa bịt, rồi dùng mùn gỗ và keo 502 dán cố định tạo thành quả pháo nổ. Bằng cách thức nêu trên, H làm được 07 quả pháo nổ kích thước cao khoảng 20cm, đường kính từ 8-10cm và một số thân pháo chưa nhồi thuốc pháo. Đến khoảng 13 giờ ngày 18/01/2024, K đi bộ sang nhà H và cùng H tiếp tục làm dây dẫn cháy và pháo nổ. K trực tiếp làm được 07 quả pháo nổ kích thước cao khoảng 5cm, đường kính 1,5cm. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Đồng Sinh H2 là bạn của H đến chơi. Tại nhà H, H2 có giúp H và K cho mùn gỗ vào 02 thân pháo, kích thước cao 6,5cm, đường kính 3cm đã được bịt kín một đầu. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Thu H3 là bạn của H đến chơi và xem H làm pháo nổ, còn K và H2 đi ra ngoài. Đến 15 giờ 15 phút ngày cùng ngày, khi H đang sản xuất pháo nổ thì bị Tổ công tác của Công an huyện K phối hợp với Công an xã L kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng gồm: 12 vật hình trụ, có đặc điểm tương đồng, đều được cuộn bằng giấy, cao 20cm, đường kính 8-10cm, ở giữa cuộn được bịt kín và có gắn 01 sợi dây màu trắng; 10 vật hình trụ, có đặc điểm tương đồng, đều được cuộn bằng giấy, cao 6,5cm, đường kính 3cm, ở giữa cuộn được bịt kín và có gắn 01 sợi dây màu trắng; 07 vật hình trụ, có đặc điểm tương đồng, đều được cuộn bằng giấy, cao 5cm, đường kính 1,5cm, ở giữa cuộn được bịt kín và có gắn 01 sợi dây màu trắng, được buộc lại thành 01 tràng; 01 vật hình trụ, được cuộn bằng giấy, cao 10,5cm, đường kính 6,5cm, ở giữa cuộn được bịt kín và có gắn 01 sợi dây màu trắng; 01 đoạn dây được cuộn từ nilon màu trắng, lõi có chứa chất bột màu xám, dài 86cm; 01 hộp nhựa bên trong có bám chất bột màu xám và các dụng cụ sử dụng chế tạo pháo nổ.
Tại bản Kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: 12 vật hình trụ tròn, quấn bằng giấy nhiều lớp, kích thước tương tự nhau, cao 20cm, đường kính 8-10cm, hai đầu mỗi vật được bịt kín bằng mùn cưa và keo, một đầu có gắn dây dẫn màu trắng bạc (mẫu M1), tất cả đều là pháo nổ, tổng khối lượng 12,005kg; 10 vật hình trụ tròn, quấn bằng giấy nhiều lớp, kích thước tương tự nhau, cao 6,5cm, đường kính 3cm, hai đầu mỗi vật được bịt kín bằng mùn cưa và keo, một đầu có gắn dây dẫn màu trắng bạc (mẫu M2), tất cả đều là pháo nổ, tổng khối lượng 0,464kg; 07 vật hình trụ tròn, quấn bằng giấy nhiều lớp, kích thước tương tự nhau, cao 5cm, đường kính 1,5cm, hai đầu mỗi vật được bịt kín bằng mùn cưa và keo, một đầu có gắn dây dẫn màu trắng bạc (mẫu M3), tất cả đều là pháo nổ, tổng khối lượng 0,059kg; 01 vật hình trụ tròn, quấn bằng giấy nhiều lớp, kích thước tương tự nhau, cao 10,5cm, đường kính 6,5cm, hai đầu mỗi vật được bịt kín bằng mùn cưa và keo, một đầu có gắn dây dẫn màu trắng bạc (mẫu M4), vật trên là pháo nổ, khối lượng 0,281kg; Chất bột màu xám bên trong hộp nhựa trong suốt (mẫu M5) gửi giám định là hỗn hợp của kali clorat, bột lưu huỳnh, bột than, chất bột màu xám là thuốc pháo, khối lượng thuốc pháo là 0,013kg; Đoạn dây dẫn gửi giám định được quấn bằng nilon trong suốt nhiều lớp, ở giữa có chất bột màu xám (mẫu M6), chất bột này là thuốc pháo, đoạn dây dẫn có tác dụng dẫn cháy, khối lượng 0,006kg. Thuốc pháo và dây dẫn cháy là nguyên liệu để sản xuất pháo nổ. H4 lại đối tượng giám định sau khi trích 02 vật hình trụ có khối lượng 2,054kg từ mẫu M1, 02 vật hình trụ có khối lượng 86g từ mẫu M2, 01 vật hình trụ có khối lượng 9g từ mẫu M3, toàn bộ mẫu M4, M5, M6 phục vụ giám định, hoàn lại các mẫu vật sau giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K.
Tại Cáo trạng số: 49/CT-VKS ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đoàn Đức H và Phạm Huy K về tội “Sản xuất hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H và bị cáo K đề nghị cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo H được hưởng mức án 14 tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo K được hưởng mức án 12 tháng tù cho hưởng án treo.
Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Đức H và Phạm Huy K phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo H), các điểm i, s khoản 1 Điều 51 (đối với bị cáo K), Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Xử phạt bị cáo Đoàn Đức H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Huy K từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Đoàn Đức H và Phạm Huy K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015; tịch thu và tiêu hủy 1 ống nhựa, 1 thìa nhựa, 1 phễu nhựa, 1 chiếc kéo, 1 lọ keo 502, 1 lọ keo dán giấy, 1 cuộn băng dính và giấy, sách báo cũ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo K được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/01/2024 đến 15 giờ 15 phút ngày 18/01/2024, tại nhà của Đoàn Đức H ở thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương, Đoàn Đức H và Phạm Huy K có hành vi sản xuất trái phép 12,809kg pháo nổ, tàng trữ 0,019kg thuốc pháo, dây dẫn cháy và các dụng cụ liên quan để sản xuất pháo nổ mục đích sử dụng đốt pháo nổ vào dịp Tết Nguyên đán thì bị Tổ công tác của Công an huyện K phối hợp với Công an xã L phát hiện, thu giữ vật chứng như nêu trên.
-
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức nhận thức được pháo là hàng cấm, việc sản xuất trái phép nhằm mục đích sử dụng là trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất hàng cấm là khách thể được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo cùng góp tiền mua nguyên liệu làm thuốc pháo và trực tiếp chế tạo pháo nổ nên cần đánh giá vai trò, vị trí và xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.
-
[4.1]. Bị cáo Đoàn Đức H góp tiền nhiều hơn, là người trực tiếp đặt mua nguyên liệu, chuẩn bị công cụ nên giữ vai trò chính. Bị cáo K giúp sức với vai trò là người thực hành tích cực.
-
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-
[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo H có đóng góp vào các quỹ xã hội tại xã L, được địa phương xác nhận nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 của BLHS.
-
-
Trên cơ sở đánh giá trên, HĐXX thấy các bị cáo đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, nhân thân tốt, là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không cần thiết phải buộc các bị cáo cách ly khỏi xã hội. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách, tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích đối với xã hội.
Trong vụ án này, Đồng Sinh H2 có hành vi giúp Hải sản xuất 02 quả pháo nổ kích thước cao 6,5 cm, đường kính 3cm (khối lượng trung bình 0,0464kg/quả), chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Cháu Nguyễn Thu H3 không tham gia vào quá trình làm thuốc pháo và sản xuất pháo nổ; bà Đoàn Thị L (mẹ đẻ của H) không biết việc H sử dụng gian bếp cũ của gia đình để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý
-
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của BLHS.
-
Về vật chứng: 1 ống nhựa, 1 thìa nhựa, 1 phễu nhựa, 1 chiếc kéo, 1 lọ keo 502, 1 lọ keo dán giấy, 1 cuộn băng dính và giấy, sách báo cũ là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
-
Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo K thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự;
-
Tuyên bố: Các bị cáo Đoàn Đức H và Phạm Huy K phạm tội "Sản xuất hàng cấm".
-
Áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Đức H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
-
Áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Huy K 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
-
Giao các bị cáo Đoàn Đức H và Phạm Huy K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
-
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
-
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy 1 ống nhựa, 1 thìa nhựa, 1 phễu nhựa, 1 chiếc kéo, 1 lọ keo 502, 1 lọ keo dán giấy, 1 cuộn băng dính và giấy, sách báo cũ. (Đặc điểm của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/7/2024 giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K)
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Đức H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Huy K.
Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (sản xuất hàng cấm)
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sản xuất hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/01/2024 đến 15 giờ 15 phút ngày 18/01/2024, tại nhà của Đoàn Đức H ở thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương, Đoàn Đức H và Phạm Huy Kh có hành vi sản xuất trái phép 12,809kg pháo nổ, tàng trữ 0,019kg thuốc pháo, dây dẫn cháy và các dụng cụ liên quan để sản xuất pháo nổ mục đích sử dụng đốt pháo nổ vào dịp Tết Nguyên đán
