|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 08 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Ông Điểu Kim Rương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2023/TLST-HS ngày 31/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với bị cáo:
Hoàng Kim N, sinh ngày 01/02/1997 tại Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12.
Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha Hoàng Khắc Q, sinh năm 1955, Mẹ Trần Thị N1, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ là Phạm Thị Mộng T (đã ly hôn), có 01 con là Hoàng Gia T1, sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
- Công ty Cổ phần D1. Đại diện theo pháp luật ông Lương Duy H – Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thiện M, sinh năm 1974 – Chức vụ: Giám đốc kiểm toán nội bộ. Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1992 – Chức vụ quản lý khu vực.
- Nguyễn Phúc T3, sinh năm 1992 (đã chết). Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phúc T4, sinh năm 1954. Nơi cư trú: ấp X, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần D1 - Đại diện theo pháp luật ông Lương Duy H – Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thiện M, sinh năm 1974 – Chức vụ: Giám đốc kiểm toán nội bộ. Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1992 – Chức vụ quản lý khu vực (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Kim N là nhân viên của Công ty cổ phần D1 chi nhánh huyện H (Công ty giao hàng nhanh). Trong thời gian này N còn ký hợp đồng thuê khoán phát xã ngoài giờ với bà Nguyễn Thị Thùy D – Trưởng bưu cục xã T để giao hàng cho bà D.
Trong thời gian làm việc cho Công ty giao hàng nhanh và bà D do cần tiền tiêu xài cá nhân nên N đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty giao hàng nhanh và bà D, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Ngày 01/7/2021 bà Nguyễn Thị Thùy D – Trưởng bưu cục xã T, có ký hợp đồng thuê khoán chuyển phát ngoài giờ với N, nhiệm vụ chính của N là hàng ngày đến bưu cục gặp bà D lấy hàng, đi phát và thu tiền nộp về cho bà D theo số lượng hàng, tiền tương ứng. Mỗi đơn hàng giao thành công, N được nhận 6.000đ từ bà D. Thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 8/2021 N đến nhận hàng, đi giao, thu tiền nộp đầy đủ về cho bà D theo như hợp đồng. Đến khoảng tháng 9/2021, vì lượng hàng hóa bên Công ty giao hàng nhanh nhiều nên khoảng 03 ngày N mới đến nhận hàng từ bà D để đi phát nhưng N không nộp đủ tiền về cho bà D. Từ ngày 20/9/2021 đến ngày 29/9/2021, N tiếp tục đến nhận hàng, đi giao, thu tiền 252 đơn với số tiền 114.099.044 (Một trăm mười bốn triệu, không trăm chín mươi chín nghìn, không trăm bốn mươi bốn đồng). Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên N không nộp tiền về cho bà D theo như thỏa thuận hợp đồng. Bà D nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu N nộp tiền thì đến ngày 29/9/2021 N nộp cho bà D 14.000.000 đồng, ngày 09/10/2021 nộp 15.387.000 đồng, tổng số tiền N đã nộp cho bà D là 29.837.000 đồng, còn số tiền 84.262.044 đồng đến nay N vẫn chưa nộp lại cho bà D.
Vụ thứ hai:
Trong thời gian làm việc cho Công ty giao hàng nhanh nhiệm vụ hàng ngày của N là đến nhận lệnh từ Công ty để giao hàng cho khách, thu tiền đơn hàng từ khách (tiền COD) đối với các đơn hàng đã giao thành công, sau đó cập nhật trạng thái giao hàng lên ứng dụng Tài xế M-PDS. Từ đó, N sẽ căn cứ vào số tiền các đơn hàng mà N đã giao, thu lại đúng số tiền từ người nhận hàng và có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền đã nhận từ khách hàng về cho Công ty giao hàng nhanh.
Vào các ngày 20/01/2022, ngày 23/01/2022 và ngày 24/01/2022, N đến Công ty cổ phần D1 chi nhánh T5 để nhận hàng và đi giao, thu tiền từ khách hàng tổng cộng 25.162.364 đồng, nhưng N không nộp tiền về cho công ty M1 chiếm đoạt số tiền để tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ ba:
Ngày 20 và 23/01/2023 anh Nguyễn Phúc T3 cũng là nhân viên Công ty cổ phần D1 hàng nhanh, do làm chung và tin tưởng N nên có đưa cho N tổng số tiền 36.186.000 đồng nhờ N mang về nộp cho công ty, nhưng N không nộp mà chiếm đoạt số tiền trên tiêu xài cá nhân.
Đến ngày 25/01/2022, Công ty phát hiện Hoàng Kim N chậm trễ trong việc nộp tiền nên nhiều lần yêu cầu N trả tiền nhưng N không trả, vì vậy Công ty giao hàng nhanh đã làm đơn trình báo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Kim N đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm nêu trên.
Vật chứng vụ án: không có
Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Hoàng Kim N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Chủ tọa phiên tòa công bố các bản khai của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người tham gia tố tụng khác.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Kim N phạm tội tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”và “Tam ô tài sản”. Áp dụng khoản 2 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 28 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng 1 Điều 353, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 53, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 28 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.
Tranh luận: Chủ tọa phiên tòa công bố các bản khai của bị cáo, bị hại, đại diện bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa; lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của bị hại, đại diện bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người tham gia tố tụng khác.
Lời nói sau cùng: Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về bị cáo vắng mặt tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã bỏ trốn và việc truy nã không có kết quả nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị hại, đại diện bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án nên việc vắng mặt bị hại, đại diện bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự
[2] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của Bị cáo trong quá trình điều tra là phù hợp với lời khai của Bị hại, người đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 20/9/2021 đến 29/9/2021, N nhận hàng của chị Nguyễn Thị Thùy D và đi giao cho khách hàng, đã thu tiền 252 đơn với tổng số tiền 114.099.044 đồng. Sau khi thu tiền N chỉ nộp lại cho chị D số tiền 29.837.000 đồng, còn số tiền 84.262.044 đồng Nguyên chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Ngày 20 và 23/01/2023 anh Nguyễn Phúc T3 là nhận viên giao hàng làm cùng Công ty giao hàng nhanh với N, do tin tưởng nên có đưa cho N tổng số tiền 36.186.000 đồng để nhờ N mang về nộp cho Công ty giao hàng nhanh, nhưng N không nộp mà chiếm đoạt số tiền trên tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền N đã chiếm đoạt của chị D và của Công ty giao hàng nhanh là 120.448.044 đồng. Như vậy, hành vi trên của N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty giao hàng nhanh, cụ thể: vào các ngày 20/01/2022, ngày 23/01/2022 và ngày 24/01/2022, khi N đang là nhân viên giao hàng của Công ty giao hàng nhanh có nhiệm vụ lấy hàng từ Công ty đi giao cho khách và nhận tiền hàng từ khách hàng quản lý để về nộp lại cho Công ty nhưng sau khi thu tiền của khách với tổng số tiền 25.162.364 đồng N không nộp số tiền này về lại cho Công ty mà chiến đoạt tiêu xài cá nhân hết. Hành vi trên của N đã đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Hoàng Kim N về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội Tham ô tài sản quy định tại khoản 1 Điều 353 của của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, lợi dụng tín nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình xã hội tại địa phương. Sau khi phạm tội bị cáo được tại ngoại và cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng sau đó bị cáo đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã có Quyết định truy nã nhưng không bắt được bị cáo, gây khó khăn cho việc xét xử của Tòa án. Từ đó cho thấy bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo, sau khi phạm tội đã không có thái độ ăn năn hối cải nên cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo khi xem xét Quyết định hình phạt.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình giải quyết bị hại Nguyễn Thị Thùy D yêu cầu Hoàng Kim N bồi thường số tiền 84.264.044đ. Tại biên bản thỏa thuận dân sự ngày 11/7/2023 Hoàng Kim N thừa nhận và đồng ý bồi thường, đồng thời quá trình điều tra đã chứng minh Hoàng Kim N đã chiến đoạt của bà Nguyễn Thị Thùy D số tiền 84.264.044đ. Do đó, yêu cầu bồi thường của bà D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo Hoàng Kim N bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thùy D số tiền 84.264.044 đồng.
Đối với số tiền 36.186.000₫ là tiền anh Nguyễn Phúc T3 nhờ N mang về giao lại cho Công ty giao hàng nhanh nhưng N không giao lại mà đã chiếm đoạt số tiền này của anh T3 để sử dụng cá nhân nên bị cáo Hoàng Kim N phải bồi thường cho anh Nguyễn Phúc T3 số tiền 36.186.000đ. Tuy nhiên, hiện nay anh T3 đã chết, ông Nguyễn Phúc T4 (cha đẻ anh T3) là người đại diện hợp pháp của anh T3 có quyền yêu cầu và nhận bồi thường đối với số tiền này.
Đối với số tiền 25.162.364 đồng N đã chiếm đoạt của Công ty giao hàng nhanh, quá trình điều tra đã chứng minh Hoàng Kim N đã chiến đoạt của Công ty giao hàng nhanh số tiền 25.162.364 đồng. Do đó, yêu cầu bồi thường của Công ty giao hàng nhanh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo Hoàng Kim N bồi thường cho Công ty giao hàng nhanh số tiền 25.162.364 đồng.
Đối với số tiền 36.186.000₫ anh Nguyễn Phúc T3 nhờ N mang về giao lại cho Công ty giao hàng nhanh nhưng N không giao lại, trong vụ án này Công ty giao hàng nhanh không có yêu cầu gì đối với Nguyễn Phúc T3 nên sẽ tách ra giải quyết trong vụ án khác khi Công ty giao hàng nhanh có yêu cầu.
[6] Vật chứng vu án không có nên không đề cập xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 7.280.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Kim N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “ Tham ô tài sản”.
-
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim Nguyên hình p 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng Kim N mức hình phạt 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội thành hình phạt chung đối với bị cáo Hoàng Kim N là 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để Thi hành án.
-
Về bồi thường dân sự:
- Buộc bị cáo Hoàng Kim N bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thùy D số tiền 84.264.044₫ (tám mươi tư triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng).
- Buộc bị cáo Hoàng Kim N bồi thường cho anh Nguyễn Phúc T3 (đã chết) số tiền 36.186.000đ (ba mươi sáu triệu một trăm tám mưới sáu nghìn đồng), ông Nguyễn Phúc T4 (cha đẻ anh T3) là người đại diện hợp pháp của anh T3 có quyền yêu cầu và nhận bồi thường đối với số tiền này.
- Buộc bị cáo Hoàng Kim N bồi thường cho Công ty cổ phần D1 số tiền 25.162.364₫ (hai mươi lăm triệu một trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1.
Bị cáo Hoàng Kim N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.280.000 (bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận : - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Hớn Quản; - Trường giáo dưỡng số 4; - Bộ phận HSNV CA Hớn Quản; - Chi cục THADS huyện Hớn Quản; - Bị cáo, Bị hại; - Lưu trữ; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tham ô tài sản
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
