Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/DS-ST.

Ngày: 07-9-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản”

và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

2. Ông Nguyễn Phương Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB-TA ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay.

Địa chỉ trụ sở chính: Số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANORWATPAISAL NAPAT - Sinh năm 1972 - Chức danh: Giám đốc.

Địa chỉ liên hệ: Số I đường L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Hoàn T - Sinh năm 1996 (Theo Giấy ủy quyền số 236/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023) (Có mặt).

Nơi thường trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Địa chỉ liên hệ: Số B N, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

2/ Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim P - Sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hoàn T trình bày:

Công ty Cổ phần S Có Ngay (Viết tắt là Công ty S) không được Ngân hàng N cấp phép hoạt động nên không hoạt động kinh doanh theo Luật các tổ chức tín dụng và các Văn bản hướng dẫn của Ngân hàng N đối với các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng. Công ty S chỉ được Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh N cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 27/03/2024.

Công ty S có các tên ngành đăng ký theo “Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp” số 5942/24 ngày 22/03/2024 của Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh N. Theo đó, thông tin của doanh nghiệp (Công ty S) được cập nhật vào hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp gồm ngành nghề kinh doanh, mã ngành và kinh doanh đúng các ngành nghề đã đăng ký; trong đó có ngành chính là “Dịch vụ cầm đồ” theo mã ngành 6492.

Ngày 22/7/2022, bà Đặng Thị Kim PCông ty Cổ phần S Có Ngay qua Công ty TNHH S1 - Chi nhánh P2 (Viết tắt là Công ty S) ký kết Hợp đồng cầm cố số PRM220702021NA18X và Phụ lục hợp đồng cầm cố điều khoản chung số PRM220702021NA18X (Viết tắt là Hợp đồng cầm cố); cụ thể như sau:

Công ty S nhận bảo đảm khoản tiền cầm cố thông qua Hợp đồng cầm cố số PRM220702021NA18X, số đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục Đ: Giaodichdambao/botuphap; theo web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/với tài sản cầm cố là chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius 110, màu xanh đen; số khung: 3210JY189667; số máy: E3X9E440367; biển số: 85B1-627.77; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 043432 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 30/6/2018 thuộc quyền sở hữu của bà Đặng Thị Kim P để bà Phước nhận số tiền cầm cố là 9.500.000 đồng với thời hạn cầm cố là 12 tháng (Kể từ ngày 22/7/2022 đến ngày 22/7/2023). Tài sản cầm cố giữa bà Đặng Thị Kim PCông ty S đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo số đăng ký 1468114334 trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục Đ - Bộ Tư pháp ngày 06/8/2022.

Lãi suất cầm cố cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Bà Phước cam kết thanh toán tiền định kỳ hàng tháng bao gồm gốc và lãi trong hạn với số tiền là 876.394 đồng vào ngày 22 hàng tháng từ tháng 8/2022 đến tháng 7/2023. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cầm cố trong hạn được áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền.

Phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu là 142.500 đồng; loại phí này chỉ thu 01 lần tại thời điểm giao kết hợp đồng làm căn cứ chấp thuận khoản cầm cố của khách hàng; Công ty S đã thu của bà Phước.

Phí đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm là 150.000 đồng; loại phí này chỉ thu 01 lần tại thời điểm giao kết hợp đồng; Công ty S đã thu của bà Phước.

Phí trả nợ trước hạn là 7% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn; loại phí này chỉ thu khi khách hàng có nguyện vọng muốn trả nợ trước hạn.

Phạt vi phạm kỳ hạn trả nợ với mức phí là 8% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn.

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

Ngoài ra, bà Đặng Thị Kim P đã lập “Giấy ủy quyền” ngày 22/7/2022 ủy quyền cho Công ty S với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) tài sản là chiếc xe mang biển số 85B1-627.77 của bên ủy quyền”. Do bà Phước không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên trong ngày 22/7/2022, bà Phước đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển số 85B1-627.77 đã được cầm cố trên trong thời hạn 30 ngày từ ngày 22/7/2022 đến ngày 22/8/2022 và Công ty S đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho bà Phước mượn. Bà Phước đồng ý trả các loại phí gồm:

Phí mượn xe là 199.500 đồng nếu quá thời hạn nêu trên mà bà Phước không trả xe cho Công ty S thì sẽ vẫn phải chịu phí mượn xe theo thỏa thuận trên.

Phí thu hồi, xử lý tài sản cầm cố xe máy là 1.000.000 đồng và các thỏa thuận khác liên quan đến việc mượn xe máy nêu trên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng và “Giấy mượn xe” nêu trên, bà Đặng Thị Kim P đã thanh toán cho Công ty S vào các ngày 01/9/2022, 03/10/2022 và 07/11/2022 với số tiền là 3.204.999 đồng; trong đó bao gồm 2.142.497 đồng tiền gốc, 289.467 đồng tiền lãi, 131.576 đồng phí quản lý hồ sơ, 42.959 đồng phí phạt và 598.500 đồng phí mượn xe rồi sau đó không trả bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty S nữa. Bà P1 cũng không trả lại xe đã mượn cho Công ty S đúng hạn như cam kết.

Tại đơn khởi kiện ngày 17/4/2024, Công ty S yêu cầu bà Đặng Thị Kim P phải trả lại xe máy mang biển số 85B1-627.77 đã mượn theo “Giấy mượn xe” mà hai bên đã ký kết. Nếu bà Phước không trả lại chiếc xe máy trên thì phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí mượn xe. Đến phiên hòa giải ngày 15/7/2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Phước phải trả lại xe máy đã mượn nhưng phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí mượn xe.

Tại phiên tòa, ông Lê Hoàn T đại diện theo ủy quyền cho Công ty S yêu cầu giải quyết:

Không yêu cầu bà Đặng Thị Kim P phải giao trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius 110, màu xanh đen; số khung: 3210JY189667; số máy: E3X9E440367; biển số: 85B1-627.77 đã cầm cố mà bà Phước mượn lại của Công ty S.

Buộc bà Đặng Thị Kim P phải thanh toán số tiền 11.608.000 đồng (Đã làm tròn); Trong đó tiền gốc là 7.357.503 đồng, tiền lãi trong hạn là 321.103 đồng, tiền lãi quá hạn là 2.134.671 đồng và phí mượn xe là 1.795.500 đồng.

Khi nào bà Đặng Thị Kim P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần S Có Ngay sẽ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 043432 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 30/6/2018 cho bà Đặng Thị Kim P.

Bị đơn là bà Đặng Thị Kim P: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Đặng Thị Kim P không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay.

Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, Công ty S yêu cầu bà Đặng Thị Kim P phải trả lại xe máy đã mượn theo “Giấy mượn xe” mà hai bên đã ký kết; nếu bà Phước không trả lại xe máy thì phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe. Đến phiên hòa giải ngày 15/7/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Phước phải trả chiếc xe máy đã mượn nhưng phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí mượn xe. Hội đồng xét xử xác định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào Điều 244 của BLTTDS, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của đương sự, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bà Đặng Thị Kim P cầm cố xe máy cho Công ty S để nhận tiền, ngay sau đó lập giấy mượn xe đã cầm cố để dùng làm phương tiện đi lại. Như vậy, bản chất của giao dịch dân sự lập “Hợp đồng cầm cố” và “Giấy mượn xe” giữa Công ty S và bà Phước là để che đậy mục đích thật sự là “Vay tiền”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Đặng Thị Kim P không đến Tòa án tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty S, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Đối với nội dung vay có cầm cố tài sản: Công ty S cho bà Đặng Thị Kim P vay tiền có cầm cố tài sản là chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của bà Phước để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, việc cho vay và cầm cố tài sản các bên không lập thành từng hợp đồng riêng biệt mà lập chung một hợp đồng có tiêu đề là “Hợp đồng cầm cố” và có “Phụ lục hợp đồng cầm cố điều khoản chung” kèm theo (Gọi tắt là Hợp đồng cầm cố). Trong Hợp đồng cầm cố các bên thỏa thuận số tiền vay, lãi suất, thời hạn, phương thức thanh toán, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các khoản phí liên quan đến cầm cố tài sản. Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1.1] Ngày 22/7/2022, giữa bà Đặng Thị Kim PCông ty S ký kết Hợp đồng cầm cố. Căn cứ nhu cầu và trị giá tài sản cầm cố của bà Phước; Công ty S đã nhận cầm cố chiếc xe máy biển số 85B1-627.77 và cho bà Phước vay số tiền 9.500.000 đồng. Hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cho vay cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền; bà Phước có nghĩa vụ trả tiền vào ngày 22 của tháng, từ tháng 8/2022 đến tháng 7/2023; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Hợp đồng cầm cố giữa Công ty S và bà Phước được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp; là cơ sở để giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

[2.1.2] Quá trình thực hiện Hợp đồng cầm cố, bà Phước đã thanh toán cho Công ty S từ ngày 01/9/2022 đến ngày 07/11/2022 được số tiền gốc là 2.142.497 đồng; số tiền lãi là 289.467 đồng. Sau đó bà Phước không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty S nữa. Căn cứ các tài liệu nguyên đơn cung cấp, xác định tính đến ngày 07/11/2022, bà Phước còn nợ số tiền nợ gốc là: 7.357.503 đồng. Từ ngày 08/11/2022 đến ngày 22/7/2023 là 256 ngày là thời hạn còn lại trong hợp đồng, bà Phước phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trong hạn theo quy định là 689.368 đồng (Cách tính: 7.357.503 đồng x 0,0366%/ngày x 256 ngày). Tuy nhiên dựa trên cách tính của Công ty S thì số tiền lãi trong hạn bà Phước phải thanh toán là 321.103 đồng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. Đối với lãi quá hạn được tính từ ngày bà Phước vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày 08/11/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/9/2024) là 669 ngày với số tiền là 2.707.193 đồng (Cách tính 7.357.503 đồng x 1,1% x 150% : 30 ngày x 669 ngày). Tuy nhiên dựa trên cách tính của Công ty SAWAD thì số tiền lãi quá hạn bà Phước phải thanh toán là 2.134.671 đồng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[2.1.3] Để bảo đảm cho khoản vay, bà Đặng Thị Kim P đã cầm cố chiếc xe máy biển số 85B1-627.77 thuộc sở hữu của bà Phước cho Công ty S. Tài sản cầm cố đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo số đăng ký 1468114334 trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục Đ - Bộ Tư pháp ngày 06/8/2022. Chi phí cho việc đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm là 150.000 đồng, chi phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu là 142.500 đồng tại thời điểm giao kết hợp đồng làm căn cứ chấp thuận khoản cầm cố của bà Phước. Hai loại phí này chỉ thu 01 lần và Công ty S đã thu của bà Phước. Xét thấy các chi phí này là sự thỏa thuận giữa Công ty S và bà Phước, phù hợp với quy định của pháp luật, bà Phước đã trả mà không có ý kiến gì và Công ty S không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.2] Đối với nội dung mượn tài sản: Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.2.1] Ngày 22/7/2022, bà Đặng Thị Kim P đã lập “Giấy ủy quyền” để ủy quyền cho Công ty SAWAD với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) chiếc xe mang biển số 85B1-627.77”. Do bà Phước không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên cũng trong ngày 22/7/2022; bà Phước đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển số 85B1-627.77 đã được cầm cố trong thời hạn 30 ngày từ ngày 22/7/2022 đến ngày 22/8/2022 và Công ty S đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho bà Phước mượn; bà Phước đồng ý trả phí mượn xe là 199.500 đồng, nếu quá thời hạn nêu trên mà bà Phước không trả xe cho Công ty S thì vẫn phải chịu phí mượn xe đã thỏa thuận.

[2.2.2] Việc các bên thỏa thuận cho mượn lại tài sản cầm cố và thỏa thuận phí mượn xe là sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, không bị pháp luật cấm tại thời điểm thỏa thuận. Bà Phước đã thực hiện trên thực tế, trả cho Công ty S 03 lần với số tiền 598.500 đồng mà không có tranh chấp, khiếu nại gì. Từ ngày 07/11/2022 cho đến ngày 07/9/2024 là 22 tháng, bà Phước chưa giao lại tài sản cầm cố đã mượn lại và cũng không thanh toán chi phí mượn tài sản cho Công ty S. Tuy nhiên, Công ty S chỉ yêu cầu bà Phước phải thanh toán chi phí mượn tài sản đến ngày 22/7/2023 là 09 tháng với số tiền 1.795.500 đồng (Cách tính: 199.500 đồng/tháng x 09 tháng) là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[2.3] Như vậy, Công ty S yêu cầu bà Đặng Thị Kim P phải thanh toán tiền gốc là 7.357.503 đồng, tiền lãi trong hạn là 321.103 đồng, tiền lãi quá hạn là 2.134.671 đồng, tiền phí mượn xe là 1.795.500 đồng; tổng số tiền là 11.608.000 đồng (Đã làm tròn theo đề nghị của nguyên đơn) là có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Chiếc xe máy mang biển số 85B1-627.77, Công ty S đã giao cho bà Phước quản lý, sử dụng khi hai bên lập “Giấy mượn xe” và không yêu cầu bà Phước phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 043432 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 30/6/2018 mang tên bà Đặng Thị Kim P, hiện tại Công ty S đang giữ, khi nào bà Phước thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ Công ty S có nghĩa vụ giao trả cho bà Phước.

[3]. Tại Hợp đồng cầm cố tài sản, bà Đặng Thị Kim PCông ty S thỏa thuận phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền; phí phạt vi phạm kỳ hạn trả nợ với mức phí là 8% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn. Bà P1 đã trả cho Công ty S được số tiền theo các thỏa thuận này là 174.535 đồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành về cầm cố tài sản là không có phí. Lẽ ra, số tiền trên Công ty S phải trả lại cho bà Phước, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phước không có ý kiến hay khiếu nại gì về số tiền này và Công ty S cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với loại phí này nữa nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, giải quyết.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Đặng Thị Kim P, có nội dung thể hiện yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với bà Phước nhưng bà Phước không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty S xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà Phước đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Công ty S không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền đã tạm ứng; bị đơn là bà Đặng Thị Kim P phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 580.000 đồng (Đã làm tròn).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 244; Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Các Điều 309, 310, 311, 313, 316, 375, 463, 466, 468, 470, 494, 496, 497 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay.

  1. Buộc bà Đặng Thị Kim P có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần S Tiền Có Ngay số tiền tổng cộng là 11.608.000 đồng (Đã làm tròn) (Mười một triệu, sáu trăm linh tám nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 7.357.503 đồng (Bảy triệu, ba trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm linh ba đồng), tiền lãi trong hạn là 321.103 đồng (Ba trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm linh ba đồng), tiền lãi quá hạn là 2.134.671 đồng (Hai triệu, một trăm ba mươi tư nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng) và phí mượn xe là 1.795.500 đồng (Một triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong; bà Đặng Thị Kim P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất Công ty Cổ phần S Có Ngay và bà Đặng Thị Kim P thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Ngay sau khi bà Đặng Thị Kim P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần S Có Ngay có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 043432 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 30/6/2018 cho bà Đặng Thị Kim P.

  2. Về án phí:
    1. Đặng Thị Kim P phải chịu 580.000 đồng (Đã làm tròn) (Năm trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Công ty Cổ phần S Có Ngay không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 347.675 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy nghìn, sáu trăm bảy mươi lăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002625 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/9/2024). Bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản và tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản và Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản giữa Công ty S và bà Đặng Thị Kim P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger