TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/DS-PT
Ngày 07-8-2024
V/v tranh chấp yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên
Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2024/TLPT- DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Do Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 41/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Xuân L, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; ông L vắng mặt bà T có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Xuân L: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Theo giấy ủy quyền ngày 15/7/2024. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1957; nơi thường trú: Tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Xuân L: Công ty L1 và cộng sự; địa chỉ: Số A, ngách A, ngõ A, A, quận T, thành phố Hà Nội. Giám đốc: Ông Nguyễn Đức T1, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Quang H: Ông Nguyễn Đức T1, ông Nguyễn Thanh Đ, ông Phạm Thanh N, đều là Luật sư thuộc Công ty L1 và cộng sự; Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A, ngách A, ngõ A, A, quận T, thành phố Hà Nội; đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1972; nơi thường trú: Tổ dân phố D, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số nhà E, ngõ A đường S, tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Quang H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn gồm ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:
Ngày 06/6/2012, ông bà với ông H ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất(sau đây viết tắt: Hợp đồng CNQSD đất), giá chuyển nhượng 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) đối với diện tích đất 47,6 m² đất ở tại đô thị thuộc thửa đất số 73a, tờ bản đồ số 06-NH, địa chỉ thửa đất: Hạnh Phúc, Ngọc H1, Đ, Hải Phòng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt: Giấy CNQSD đất) số AG 594145, số vào sổ cấp GCN: 100298 do UBND thị xã Đ cấp ngày 19/12/2006, tên chủ sử dụng đất: Ông Nguyễn Quang S. Ngày 02/3/2007, ông S đã tặng tài sản này cho con trai là Nguyễn Quang H. Ông L, bà T đã được bàn giao tài sản cùng các giấy tờ theo quy định của pháp luật để làm thủ tục sang tên đối với thửa đất này.
Ngày 17/5/2013, UBND quận Đ đã cấp Giấy CNQSD đất số: BK 433985, số vào sổ cấp GCN: CH00597 ngày 17/5/2013; tên người sử dụng đất: Ông Hoàng Xuân L, vợ là bà Nguyễn Thị T. Trên thực tế, ông bà nhận chuyển nhượng cả nhà và đất thì giá trị mới lên đến 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) nhưng do sơ suất nên trong Hợp đồng không nêu về ngôi nhà. Sau khi việc mua bán được hoàn thành, ông H đề nghị với ông bà cho bố ông H là cụ Nguyễn Quang S được ở tạm trên thửa đất đó một thời gian ngắn để thu xếp chỗ ở mới, ông bà đồng ý. Đến cuối năm 2013, cụ S chết, ông bà đã yêu cầu ông H trả lại nhà đất nhưng ông H không trả. Sau khi các bên làm thủ tục chuyển nhượng, ông H có đề nghị được lấy lại nhà, ông bà cũng đồng ý trả lại nhà ông H và nhận lại tiền. Ông H đã trả ông bà 120.000.000₫ (một trăm hai mươi triệu đồng), còn nợ lại 380.000.000đ (ba trăm tám mươi triệu đồng), ông H không trả cũng không có phương án giải quyết dứt điểm. Quá trình giải quyết tranh chấp, ngày 18/4/2014 tại Công an phường N (nay là
phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng, hai bên đã lập Bản thỏa thuận với nội dung: “……… Thỏa thuận như sau: Trong thời gian 3 tháng (Ba) từ ngày 18/4/2014 đến ngày 18/7/2014. Tôi (ông H) sẽ thanh toán cho anh L và chị T số tiền 380.000.000₫ (ba trăm tám mươi triệu) là tiền do tranh chấp về nhà đất tại số E tổ dân phố H - P. N còn tồn tại số tiền là 500.000.000₫ (năm trăm triệu) đã trả 120.000.000₫ (một trăm hai mươi triệu đồng). Tôi (ông H) xin cam kết sẽ thực hiện đúng thỏa thuận trên. Nếu sai xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật”; tại Bản thỏa thuận nêu trên có đầy đủ chữ ký, ghi họ tên ông Hoàng Xuân L, ông Nguyễn Quang H. Đến hết ngày 18/7/2014 là ngày hết thời hạn 03 (ba) tháng ghi trong Bản thỏa thuận ngày 18/4/2014, ông H vẫn không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Vì vậy, đến năm 2016, ông bà khởi kiện ông H tại Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, yêu cầu Tòa án buộc ông H phải trả lại thửa đất và nhà ở trên đất cho ông bà. Sau nhiều lần Tòa án hòa giải, ông bà với ông H đã thỏa thuận, thống nhất giải quyết vụ án, có lập thành văn bản “Biên bản thỏa thuận” ngày 18/9/2017, có người chứng kiến là ông Bùi Đức V - Luật sư Văn P Luật sư Vũ Đ1 - Đoàn Luật sư thành phố H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - ông Nguyễn Quang H. Trong Biên bản này có đầy đủ chữ ký, chữ viết họ tên ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Quang H, Luật sư Bùi Đức V và có đóng dấu hình tròn, mực màu đỏ của Văn phòng Luật sư Vũ Đ1. Nội dung thỏa thuận trong Biên bản: “... Ông Nguyễn Quang H có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền 380.000.000₫ (ba trăm tám mươi triệu đồng) để mua lại nhà và đất đã bán trước đó cho ông Hoàng Xuân L và bà Nguyễn Thị T. Việc trả tiền của ông H cho ông L bà T được thực hiện thành 02 lần: Lần 1, đến ngày 30/10/2017, ông H phải trả 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng); lần 2, đến ngày 30/11/2017 ông H phải trả 180.000.000₫ (một trăm tám mươi triệu đồng) còn lại. Nếu đến hết ngày 30/11/2017, ông H không trả cho ông L và bà T 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng) còn lại thì số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng) mà ông H trả cho ông L và bà T trước đó được coi là tiền phạt vi phạm thỏa thuận giữa hai bên, ông H không có quyền đòi lại. Sau khi ông H trả cho ông L và bà T đủ số tiền trên, ông L và bà T sẽ có trách nhiệm cùng với ông H làm thủ tục sang tên chủ sở hữu quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất đối với diện tích 47,6 m² đất, thuộc thửa đất số 73a, tờ bản đồ 06-NH; địa chỉ: H, N, Đ, Hải Phòng được UBND quận Đ cấp Giấy CNQSD đất số BK 433985, số vào sổ cấp GCN: CH00597, ký ngày 17/5/2013 và nhà ở cùng các tài sản khác gắn liền với đất; người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Ông Hoàng Xuân L, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; cùng địa chỉ: Tổ B, N, Đ, Hải Phòng cho ông H theo quy định của pháp luật. Ông L và bà T sẽ rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông H trong tháng 9-2017. Nếu ông H vi phạm thỏa thuận trên thì vợ chồng ông bà có quyền khởi kiện lại vụ án đối với ông H bất kỳ lúc nào và phải có trách nhiệm bàn giao nhà và đất cho ông L và bà T.”.
Sau khi thỏa thuận như trên, đến ngày 20/9/2017, ông bà có đơn xin rút đơn khởi kiện đối với ông H. Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 14/2017/QÐST-DS ngày 22/9/2017. Sau đó, ông H không thực hiện đúng thỏa thuận tại Biên bản thỏa thuận ngày 18/9/2017, không trả tiền cũng không bàn giao nhà đất cho vợ chồng tôi. Đến cuối năm 2017, do nhà đất không còn ai ở trên đó nên vợ chồng ông bà đã tiếp nhận, quản lý toàn bộ nhà đất nêu trên.
Để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng ông bà, ông bà làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông H thực hiện nghĩa vụ theo Biên bản thỏa thuận ngày 18/9/2017, như sau: Công nhận ông bà có quyền của chủ sở hữu tài sản gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy CNQSD đất số BK 433985, số vào sổ cấp GCN: CH00597 ngày 17/5/2013 của Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng cấp; tên người sử dụng đất: Ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T tại thửa đất số: 73a, tờ bản đồ 06-NH; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N (nay là tổ dân phố số B, phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng; diện tích: 47,6 m² đất; hình thức sử dụng: sử dụng riêng 47,6 m² đất, trên đất có 01 ngôi nhà 03 tầng, bê tông, cốt thép; 01 sân bê tông, 01 mái tôn phía trước nhà; 01 tường bao; 02 trụ cổng xây ở số nhà E, ngõ A, tổ dân phố số B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Đồng thời, buộc ông Hai chấm d hành vi cản trở quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông bà.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn - ông H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày: Hợp đồng CNQSD đất giữa ông H với ông L, bà T là hợp đồng giả cách nhằm mục đích đảm bảo cho khoản tiền vay 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) do ông Vũ Đức T3, sinh năm 1958; nơi làm việc: Công ty cổ phần Đ2, V, Hải Phòng (lúc đó đang thầu thi công đường M do UBND quận Đ, thành phố Hải Phòng làm chủ đầu tư) vay của ông L. Sau khi ký kết hợp đồng, ông đã bàn giao Giấy CNQSD đất cho ông L. Do ông với ông T3 là anh em họ nên ông đứng ra đảm bảo cho khoản vay để giúp đỡ ông T3. Ông khẳng định không CNQSD đất cho ông L, bà T tại thửa đất số 73a, tờ bản đồ số 06-NH, diện tích 47,6 m², địa chỉ thửa đất: Hạnh Phúc, Ngọc H1, Đ, Hải Phòng. Việc thanh toán tiền lãi vay giữa ông T3 với ông L, ông không quan tâm, không can thiệp nhưng về khoản tiền gốc 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) mà ông dùng tài sản của mình để đảm bảo, ông đã nói với ông L “nếu ông T3 không trả được gốc, ông sẽ có trách nhiệm thanh toán cho ông L", thực tế ông đã chuyển tiền trả ông L 03 lần, với tổng số tiền 120.000.000₫ (một trăm hai mươi triệu đồng); gồm: Lần 1: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), lần 2: 50.000. 000₫ (năm mươi triệu đồng), lần 3: 50.000. 000₫ (năm mươi triệu đồng), số tiền gốc còn lại 380.000.000₫ (ba trăm tám mươi triệu đồng). Trong khi ông thực hiện trách nhiệm trả giúp ông T3 tiền nợ gốc cho ông L thì ông L đã dùng giấy tờ của ông để sang tên trên Giấy CNQSD đất. Ông thấy đây là hành vi cưỡng đoạt tài sản nên đã
làm đơn tố cáo gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để tố cáo ông L nhưng chưa được giải quyết.
Tại đơn phản tố của ông H đề ngày 08/01/2024, Tòa án nhận ngày 12/01/2024, có nội dung: “... Do điều kiện kinh tế tôi chưa thể kịp thời trả hết số nợ còn lại. Tôi vẫn khẳng định sẽ chịu trách nhiệm trả hết số tiền 380 triệu đồng cho vợ chồng ông L, bà T. Nhưng nay ông L, bà T lại khởi kiện đòi tôi phải bàn giao quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Nay tôi xin khẳng định lại, tôi không CNQSD đất cho ông L, bà T. Nếu có việc chuyển nhượng sao tôi lại không chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở trên đất cho vợ chồng họ. Tại thời điểm ký Hợp đồng CNQSD đất, ông L, bà T biết rõ trên đất có nhà thuộc quyền sở hữu của gia đình tôi. Và tại sao tôi chuyển nhượng QSD đất theo hợp đồng ngày 06/06/2012 tôi lại liên tiếp 03 lần trả ông L, bà T số tiền gốc 120 triệu trong năm 2012 (từ thời điểm ngày 06/06/2012 đến hết tháng 12/2012). Nhưng đến năm 2013, ông L, bà T đã tự ý và bằng nhiều thủ đoạn gian dối đã chuyển nhượng sang tên quyền sử dụng đất 47,6 m² mang tên ông L và bà T. Từ năm 2013, tôi đã làm đơn tố cáo ông L, bà T vì có hành vi gian dối cố tình cưỡng đoạt tài sản của tôi đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết, nhưng đến nay chưa giải quyết dứt điểm. Về mặt trách nhiệm của người bảo lãnh tôi vẫn cảm kết trả hết số tiền gốc còn lại cho ông L, bà T. Chính vì các lý do nêu trên. Nay tôi đề nghị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn tuyên Hợp đồng CNQSD đất giữa tôi và ông L, bà T vô hiệu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày: Do gia đình bà bị thu hồi nhà ở tại tổ D, phường V, quận Đ để làm đường phía Tây nên bà có nhu cầu tìm mua nhà để ở. Qua tìm hiểu bà được biết vợ chồng ông L, bà T có nhà đất tại thửa đất số 73a, tờ bản đồ 06-NH; địa chỉ: Tổ H, phường N (nay là số nhà E, ngõ A, đường S, tổ B, phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng cần chuyển nhượng. Do đó, ngày 15/6/2023, bà và vợ chồng ông L đã ký Hợp đồng CNQSD đất đối với thửa đất trên. Bà đã giao cho vợ chồng ông L 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), vợ chồng ông L đang làm thủ tục sang tên Giấy CNQSD đất cho bà nhưng vẫn chưa thực hiện được. Sau này, bà tìm hiểu nguyên nhân thì mới được biết việc ông L và ông H đang có tranh chấp liên quan đến nhà, đất này. Nên việc sang tên trên giấy tờ chưa thực hiện được. Bà đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông L giải quyết dứt điểm tranh chấp để sang tên Giấy CNQSD đất cho bà. Đến cuối tháng 12/2023, vợ chồng ông L đã bàn giao nhà đất cho bà đến để ở. Vì vậy, hiện tại bà đang sinh sống tại đây. Việc chuyển nhượng là giữa bà với vợ chồng ông L, khi mua bà đã kiểm tra Giấy CNQSD đất nên tin tưởng ký Hợp đồng chuyển nhượng, bà không biết ông H là ai, cho đến khi bà ký Hợp đồng xong và có ý định đến dọn dẹp, sửa sang nhà để ở thì ông H về thông báo cho bà biết việc ông H đang có tranh chấp với ông L, bà mới biết, ông H còn nói nếu bà cứ ở tại nhà đất đã mua của vợ chồng ông L, ông H sẽ xử lý bà với mục đích đe dọa, cản trở việc bà sinh sống tại đó. Do đó, bà đề nghị vợ chồng ông
L phải tìm phương án giải quyết dứt điểm với ông H để làm các thủ tục giấy tờ cho bà theo đúng thỏa thuận của các bên. Đến nay, vợ chồng ông L với ông H vẫn chưa giải quyết dứt điểm tranh chấp với nhau. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho bà.
Quá trình giải quyết vụ án, đã tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ gồm thu thập chứng cứ do đương sự giao nộp; xác minh, thu thập chứng cứ tại Tổ dân phố số B, Công an phường H, Văn phòng Đ3 - Chi nhánh quận Đ, thành phố Hải Phòng về nguồn gốc, diễn biến quá trình quản lý, sử dụng; ranh giới, mốc giới, diện tích; tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản đối với thửa đất số 73a, tờ bản đồ số 06-NH, địa chỉ thửa đất: Hạnh Phúc, Ngọc H1, Đ, Hải Phòng, thể hiện: Thửa đất nêu trên đã được Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng cấp Giấy CNQSD đất số BK 433985, số vào sổ cấp GCN: CH00597 ngày 17/5/2013; tên người sử dụng đất: Ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T; thửa đất số: 73a, tờ bản đồ 06-NH; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N (nay là tổ dân phố số B, phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng; diện tích: 47,6 m² đất; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng 47,6 m² đất (diện tích theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ; đo vẽ hiện trạng, định giá tài sản ngày 06/11/2023: 47,68 m² - tăng 0,08 m² do phương pháp đo vẽ, tính toán diện tích); mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất. Vị trí, kích thước, ranh giới, mốc giới của thửa đất vẫn giữ nguyên hiện trạng như Giấy CNQSD đất đã được cấp tên người sử dụng đất: Nguyễn Quang S. Trên đất có 01 ngôi nhà 03 tầng (do ông L xây thêm tường xung quanh trên nóc tầng hai, phía dưới phần mái tôn che nắng để cải tạo thành thêm 01 tầng), bê tông, cốt thép; 01 sân bê tông, 01 mái tôn phía trước nhà; 01 tường bao; 02 trụ cổng xây (theo địa chỉ hiện nay: Số nhà E, ngõ A, tổ dân phố số B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng). Theo ông H trình bày, các tài sản này do cụ Nguyễn Quang S (bố đẻ của ông H) xây dựng từ khoảng năm 2008 đến năm 2010. Trong các biên bản xác minh tại Công an phường, Tổ trưởng tổ dân phố cung cấp thông tin, xác định: Nhà, đất các bên đang tranh chấp trước kia là của cụ S. Cụ Sáng sống tại nhà đất này cho đến khi chết (năm 2013). Sau khi cụ S chết, ngôi nhà này đóng cửa, bỏ không, không có người ở. Cho đến khoảng thời gian gần đây, có thông tin ông H đã chuyển nhượng nhà, đất cho vợ chồng ông L, vợ chồng ông L đã chuyển nhượng cho người khác là bà T2, từ khoảng cuối tháng 12/2023, bà T2 đã chuyển đến sinh sống tại đây. Tại Biên bản xác minh ngày 16/01/2024, Văn phòng Đ3 - Chi nhánh quận Đ cung cấp: Đối với hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất cho ông L và bà T tại thửa đất trên, Văn phòng đã tiến hành thẩm tra hồ sơ, xác định hồ sơ hợp lệ. Đồng thời, Văn phòng đã kiểm tra lại hiện trạng thửa đất, xác định hiện trạng thửa đất không có gì thay đổi so với Giấy CNQSD đất số AG 594145, số vào sổ cấp GCN: 100298 do UBND thị xã Đ cấp ngày 19/12/2006, tên chủ sử dụng đất: Ông Nguyễn Quang S, trên đất có nhà ở. Tuy nhiên, trong Hợp đồng ký kết giữa các bên không đề cập đến việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhà. Mặt khác,
trên Giấy CNQSD đất số AG 594145, số vào sổ cấp GCN: 100298 do UBND thị xã Đ cấp ngày 19/12/2006, tên chủ sử dụng đất: Ông Nguyễn Quang S; có ghi: “nhà ở hai tầng, diện tích đất xây dựng 38,9 m², loại nhà bê tông”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Luật đất đai năm 2003, điểm b khoản 4 Điều 3 quy định về Giấy CNQSD đất ban hành kèm theo Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ T4 thì nhà ở nêu trên chưa đăng ký quyền sở hữu. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 4, Điều 6 Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 quy định bổ sung về Giấy CNQSD đất của Bộ T4 về nhà ở đối với trường hợp chưa chứng nhận quyền sở hữu, thể hiện tại trang 2 trong Giấy CNQSD đất số BK 433985 ngày 17/5/2013; tên người sử dụng đất: Ông Hoàng Xuân L, vợ là bà Nguyễn Thị T, phần II, mục 2 ghi: “nhà ở: -/-”.
Tại Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã tuyên xử:
Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 117, 118, 119, 120, 158, 160, 161, 164, 169 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 166, 167, 168 Luật Đất đai ngày 09/12/2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014); khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn gồm ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T: Ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T có quyền của người sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất theo Giấy CNQSD đất số BK 433985, số vào sổ cấp GCN: CH00597 ngày 17/5/2013 của UBND quận Đ, thành phố Hải Phòng cấp; tên người sử dụng đất: Ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T tại thửa đất số: 73a, tờ bản đồ 06-NH; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N (nay là tổ dân phố số B, phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng; diện tích: 47,6 m² đất; hình thức sử dụng: sử dụng riêng 47,6 m² đất (diện tích theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng ngày 06/11/2023: 47,68 m² - tăng 0,08 m² do phương pháp đo vẽ, tính toán diện tích); trên đất có 01 ngôi nhà 03 tầng, bê tông, cốt thép; 01 sân bê tông, 01 mái tôn phía trước nhà; 01 tường bao; 02 trụ cổng xây tại địa chỉ: Số nhà E, ngõ A, tổ dân phố số B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
- Buộc ông Nguyễn Quang H chấm dứt hành vi cản trở quyền của chủ sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của ông Hoàng Xuân L, bà Nguyễn Thị T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 02/4/2024 ông Nguyễn Quang H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Đồ Sơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố hải P.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do ông không chuyển nhượng quyền sử dụng nhà và đất cho ông L bà T, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông ký với ông L bà T là hợp đồng giả cách, ông ký để bảo lãnh khoản vay 500.000.000 đồng của ông T3 vay ông L bà T. Sau khi ông T3 không trả được lãi nữa ông đã đứng ra nhận trả gốc cho ông L bà T, thực tế ông đã trả được 120.000.000 đồng còn nợ lại 380.000.000 đồng. Tại cấp sơ thẩm ông có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn tuyên Hợp đồng CNQSD đất giữa ông và ông L, bà T vô hiệu” nhưng Toà cấp sơ thẩm không thụ lý nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông.
Người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày bà đề nghị Toà án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp, đưa thiếu người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Đề nghị toà án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Toà án công nhận việc mua bán, chuyển nhượng QSDĐ giữa nguyên đơn với bị đơn đồng thời buộc bị đơn phải bàn giao nhà đất cho nguyên đơn. Do bị đơn đang cư trú tại phường H, quận Đ và đối tượng tranh chấp là bất động sản ở phường H, quận Đ nên Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn thụ lý giải quyết theo quy định khoản 3 Điều 26 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quang H đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quang H.
- Về quan hệ tranh chấp: Tại đơn khởi kiện nguyên đơn đề nghị Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa nguyên đơn và bị đơn. Như vậy quan hệ tranh chấp của vụ án này là tranh chấp hợp đồng dân sự, Toà án quận Đồ Sơn xác định quan hệ tranh chấp là yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là không đúng quy định pháp luật.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị Toà án quận Đ tuyên bố hợp đồng CNQSD đất giữa ông và ông L, bà T là vô hiệu nhưng Toà án quận Đ không thụ lý là không đúng.
- Về nội dung giải quyết, Toà án quận Đ quyết định công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất trong khi vợ chồng ông L bà T đã được UBND quận Đ cấp Giấy CNQSDĐ và ông L bà T đã chuyển nhượng diện tích nhà đất này cho bà Nguyễn Thị Thanh T2 là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T2.
- Từ phân tích trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Toà án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp và không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, do vậy không giải quyết toàn diện, triệt để các vấn đề của vụ án, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, những chứng cứ này tại giai đoạn phúc thẩm không thể khắc phục bổ sung được. Vì vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Đồ Sơn để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Quang H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với số tiền 300.000 đồng ông L, bà T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004214 ngày 12/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn sẽ được giải quyết khi Toà án nhân dân quận Đồ Sơn giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 56/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 56/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy án sơ thẩm
