Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/8/2024

Về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng

Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà:

Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự, thụ lý số: 218/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Ngọc L, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1989

Nơi cư trú: Xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang chấp hành án tại: Đội 1, K, Trại giam S, Bộ C

Địa chỉ: Xã T, huyện T tỉnh Nghệ An (Đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Cao Thị Ngọc L trình bày:

Chị Cao Thị Ngọc L và anh Trần Ngọc Hòa kết h với nhau ngày 19/01/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống anh H không có trách nhiệm của một người chồng, người cha, trong quá trình chung sống anh H chỉ ham chơi, không lo làm ăn, bỏ bê gia đình đi theo bạn bè xấu, đến năm 2021 anh H đã vi phạm pháp luật. Hậu quả anh H đã bị bắt về tội hủy hoại tài sản và đã bị Tòa án huyện N xét xử và tuyên phạt tù, hiện đang thi hành án tại Đội 1, K, Trại giam S, Bộ C; địa chỉ xã T, huyện T tỉnh Nghệ An. Mặc dù đã nhiều lần chị L thăm gặp và động viên anh H chấp hành cho tốt và thay đổi tính cách, nhưng tính cách anh H vẫn không thay đổi vẫn gây ra nhiều phiền phức trong tình cảm và kinh tế cho vợ con. Nay xét thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân với anh H nên đề nghị Tòa án huyện D giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Ngọc H.

- Về con chung: Vợ chồng đã có 01 con chung là Trần Ngọc Hồng M, sinh ngày 28/01/2016. Vợ chồng ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi con chung cho đến khi 18 tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị L không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

- Về quan hệ tài sản: Cao Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ cá nhân hay tập thể nào. Không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Bị đơn anh Trần Ngọc H đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ về các văn bản tố tụng. Do anh H còn phải chấp hành án nên anh đã có bản khai gửi Tòa án về nội dung trình bày như sau:

Anh Trần Ngọc H đã nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và Hòa giải.

Anh H và chị L kết hôn với nhau năm 2015 (Năm 2014 ÂL), có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, đến năm 2019 thì anh phải đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam S, Bộ C địa chỉ xã T, huyện T tỉnh Nghệ An từ trước tới nay không xẩy ra xích mích gì:

- Về con chung: Vợ chồng đã có 01 con chung là Trần Ngọc Hồng M, sinh ngày 28/01/2016. Vợ chồng ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi con chung cho đến khi 18 tuổi trưởng thành. Anh H cũng thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng.

- Về quan hệ tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ cá nhân hay tập thể nào. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Và anh H cũng đã viết đơn xin được giải quyết xét xử vắng mặt anh H.

Vụ án không thể tiến hành hòa giải được, căn cứ vào quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đưa vụ án ra giải quyết xét xử theo thủ tục chung.

* Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đang phải chấp hành án và có văn bản trình bày gửi Tòa án, có đơn xin giải quyết vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b, khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Phan Thị H1 và bị đơn anh Hoàng Văn Anh .

Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về tình cảm: Giải quyết cho chị Cao Thị Ngọc L được ly hôn với anh Trần Ngọc H; Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng được nuôi con chung là là Trần Ngọc Hồng M, sinh ngày 28/01/2016, không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét hiện anh H đang phải chấp hành án do vậy không thể giao con cho anh H nuôi dưỡng được. Nay chị L có nguyện vọng nuôi con là phù hợp. Anh Trần Ngọc H cũng nhất trí giao con chung cho chị L nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị L không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị vậy nên tạm hoãn phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H cho đến khi chị L có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, Chị Cao Thị Ngọc L phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1, Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị Cao Thị Ngọc L, bị đơn anh Trần Ngọc H đều yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào, khoản 1 Điều 228, điểm b, khoản 2, Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Cao Thị Ngọc L và anh Trần Ngọc H.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Cao Thị Ngọc L và anh Trần Ngọc Hlà hoàn toàn hợp pháp, có đăng ký kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện (Giấy chứng nhận kết hôn số 6/2015 ngày 19/01/2015 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hòa thuận cho đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Trần Ngọc H vi phạm pháp luật hình sự về tội hủy hoại tài sản người khác. Hậu quả anh H đã bị Tòa án huyện N xét xử và tuyên phạt tù, hiện đang thi hành án tại đội"đội 1, K, Trại giam số 6, Bộ C; địa chỉ xã T, huyện T tỉnh Nghệ An. Nay chị H1 xét thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân nên đề nghị Tòa án huyện D giải quyết cho chị L được ly hôn anh Trần Ngọc H. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án huyện D đã nhận được bản trình bày của anh H gửi cho Tòa án xác nhận về thời gian vợ chồng kết hôn đúng như chị L đã khai, về tình trạng hôn nhân anh H cũng thừa nhận anh đã vi phạm pháp luật và bị xử phạt tù nên phải đi chấp hành án. Như vậy việc chị L khai là có thật nay chị L xin ly hôn anh H không có ý kiến gì. Bởi vậy cần áp dụng khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 để giải quyết cho chị Cao Thị Ngọc L được ly hôn anh Trần Ngọc H.

[2.2]. Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Chị Cao Thị Ngọc L và anh Trần Ngọc Hcó 01 con chung là Trần Ngọc Hồng M, sinh ngày 28/01/2016. Vợ chồng ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi con chung cho đến khi 18 tuổi trưởng thành. Anh H cũng thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng.

Hiện tại con của chị Cao Thị Ngọc L và anh Trần Ngọc H đang được chị L nuôi dưỡng khỏe mạnh, ổn định bình thường, quá trình giải quyết vụ án anh Trần Ngọc H cũng nhất trí giao con cho chị L nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét giao con cho chị Cao Thị Ngọc L nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo sự phát triển trưởng thành của cháu M.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tòa án cũng đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Cao Thị Ngọc L được biết về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là trách nhiệm của cha mẹ đối với con chưa thành niên, con không có khả năng lao động, nhưng chị L khẳng định chị đi buôn bán có thu nhập ổn định và có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con, mặt khác hiện tại anh H đang chấp hành án nên không yêu cầu anh H đóng góp nuôi con. Do vậy tạm hoãn phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh anh Trần Ngọc H cho đến khi chị Cao Thị Ngọc L có yêu cầu.

[3]. Về tài sản và nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị Cao Thị Ngọc L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28, khoản 1, Điều 35, khoản 1, Điều 39, điểm b, khoản 2, Điều 227, khoản 1, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Cao Thị Ngọc L được ly hôn anh Trần Ngọc H.

- Về con chung: Giao con chung là Trần Ngọc Hồng M, sinh ngày 28/01/2016 cho chị Cao Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Ngọc Hcho đến khi chị Cao Thị Ngọc L có yêu cầu.

Anh Trần Ngọc H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Cao Thị Ngọc L và anh Trần Ngọc Hkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Cao Thị Ngọc L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, án phí của chị Cao Thị Ngọc L được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai thu tiền số 0011524 ngày 10/7/2024 (Chị L đã nộp đủ án phí).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THA dân sự Diễn Châu;
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Diễn Thọ
  • - Lưu HS, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger