|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-PT
Ngày 07-5-2024
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Thu Phương.
Ông Vũ Tùng Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 tháng 4 năm 2024 và ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2023/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án sơ thẩm số 2819/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1378/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 5014/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hồng T, sinh năm 1961.
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà B đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Căn hộ số A2 10.06, chung cư O, đường số A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962.
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ tạm trú: Số H, Tổ I, Khu A, đường T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Do có kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H.
(Nguyên đơn ông T có mặt, bị đơn bà H đề nghị vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, tường trình và các biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Trần Hồng T trình bày như sau:
Ông và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72 cấp ngày 26/06/1989. Trong thời gian chung sống không có hạnh phúc do tính cách của bà H không chịu lắng nghe, nên khó dung hòa. Vợ chồng thường xuyên bất hòa, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau nên không gắn bó tình cảm nhưng vì thương con nên ông chấp nhận sống chung, cho đến khi con trưởng thành. Từ năm 2013 cho đến nay hai bên sống độc lập, không còn quan tâm, chia sẻ, cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Con chung là ông Trần Hồng Q, sinh ngày 18/02/1990 đã trưởng thành.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung không có.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tổng đạt triệu tập theo quy định nhưng bà H không tham gia, nên xét xử vắng mặt bà.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 2819/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và 2 Điều 269, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Hồng T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hồng T được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
- Về con chung: Đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Trần Hồng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên ông T là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí, nên ông T không phải nộp án phí.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án theo luật định.
Ngày 08/09/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông T trình bày: Từ năm 2019 cho đến nay ông và bà H đã ly thân, hai bên không còn chung sống một nhà, ông ra ngoài ở, bà H ở nhà tại T, trước dịch covid, bà H bị tai nạn giao thông ở Quảng Ngãi, sau đưa vào S trị bệnh, hiện bà đã khoẻ, sự việc ông biết được là do người con trai ông báo lại, ông không có đến thăm nom, hay hỏi thăm về bà H, do ông không mong muốn gặp và tiếp xúc với bà. Ông và bà H đã thỏa thuận về tài sản chung, ông cho tặng bà H nhà tại L, nhà ở T là bà H cho tặng ông, còn nhà ở T là ông và bà H cho tặng con trai. Ông cho rằng tại thời điểm ông nộp đơn khởi kiện bà H có mặt tại nhà ở T, nhưng tại phiên tòa ông không còn bằng chứng cung cấp cho Tòa án. Nay ông có nguyện vọng được ly hôn đối với bà H vì cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Bị đơn bà H có yêu cầu vắng mặt do trình trạng sức khẻo không tốt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu trình bày ý kiến:
Về tố tụng:
Ngày 04/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố T đưa vụ án ra xét xử. Ngày 08/9/2023, bà Nguyễn Thị H kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, kháng cáo trong hạn luật định.
Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Theo Công văn ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, kết quả xác minh bà H có thực tế cư trú tại số A đường số B, khu dân cư T, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, đối với Đơn xin xác nhận cư trú ngày 13/11/2023 của bà H tại khu P, thị trấn L, tỉnh Đồng Nai, nhận thấy chưa có căn cứ.
Bà H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại cấp sơ thẩm, cũng không có văn bản trình bày ý kiến; tại phiên tòa phúc thẩm bà H cũng vẫn vắng mặt, cho thấy bà H không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân với ông T nữa.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
1/ Về tố tụng:
Ngày 04/8/2023, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, bà H vắng mặt. Ngày 08/9/2023, bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đã tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đơn kháng cáo của bà H làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét.
2/ Về nội dung kháng cáo:
Bị đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Hồng T.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 26/06/1989, do Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H là hôn nhân hợp pháp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của ông T. Bà yêu cầu hòa giải đoàn tụ.
Bị đơn bà H cung cấp chứng cứ:
Đơn trình bày về cư trú từ tháng 05/2022 đến hết tháng 09/2022 không còn cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mà chuyển đến khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Khi sức khỏe yếu bà đã chuyển về ở nhờ chị gái tên Nguyễn Thị N tại tổ I, khu phố A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, để gần nơi chữa bệnh y học dân tộc (thời gian tạm trú từ ngày 23/10/2022 đến ngày 14/10/2024).
Đơn xác nhận của bà H được Ủy ban nhân dân thị trấn L, tỉnh Đồng Nai chứng nhận bà đã cư trú như bà trình bày.
Xác nhận thông tin về cư trú ngày 14/09/2023 của Công an xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, tại mục nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: Ở nhờ hộ Nguyễn Thị N, tổ I, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (thời gian tạm trú từ ngày 23/10/2022 đến ngày 14/10/2024).
Ngày 04/10/2022, Tòa sơ thẩm thụ lý vụ án. Ngày 28/12/2022, Tòa sơ thẩm xác minh cư trú bị đơn bà H, kết quả xác minh bà H cư trú tại địa chỉ số A đường số B, khu dân cư T, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Công văn số 1647/TATP-TGĐVNCTN ngày 17/04/2024, Công an xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho biết bị đơn bà H thực tế cư trú tại hộ nhà bà Nguyễn Thị N, tổ I (nay là tổ I), khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, từ ngày 23/10/2022 cho đến hiện tại.
Do có sự mâu thuẫn về thời gian cư trú thực tế của bà H tại hai địa phương (huyện L, tỉnh Đồng Nai và phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), nên ngày 03/05/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Văn bản số 1724/TATP-TGĐVNCTN, yêu cầu Công an phường H, thành phố T cho biết quá trình thực tế cư trú của đương sự Nguyễn Thị H tại nhà số A đường số B, khu dân cư T, khu phố D, phường H, thành phố T, và kết quả xác minh: Đương sự Nguyễn Thị H, sinh năm 1962, không thực tế cư trú tại số A, đường số B, khu dân cư T, khu phố D, phường H, thành phố T từ tháng 05/2022 cho đến nay.
Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện ngày 16/08/2022, nguyên đơn ông Trần Hồng T thể hiện tại đơn khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị H tạm trú tại số A, đường số B, khu dân cư T, khu phố D, phường H, thành phố T (bút lục 60); chứng cứ kèm theo đơn gồm Công văn số 09/BB-THHK về biên bản thu hồi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú của Công an P, quận T, chứng thực sao y ngày 31/05/2022 (bút lục 54); thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an P, quận T, chứng thực sao y ngày 16/08/2022 (bút lục 53), ngoài ra không còn chứng cứ nào khác chứng minh bị đơn bà Nguyễn Thị H đang cư trú tại số A, đường số B, khu dân cư T, khu phố D, phường H, thành phố T.
Như vậy, tại thời điểm nộp đơn khởi kiện nguyên đơn không chứng minh được bị đơn đang cư trú tại địa phương nhưng Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ án (ngày 04/10/2022 bị đơn bà H không có cư trú tại địa phương); căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, thì vụ án kể trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án sơ thẩm, nên Tòa án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng.
Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bà H; chỉ căn cứ vào lời khai của ông T cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng; nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà H có mâu thuẫn như ông T trình bày hay không, mà cho ông T được ly hôn với bà H là chưa đủ căn cứ.
Với những chứng cứ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm và chuyền hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên án phí được xem xét khi xét xử lại vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, nên bà H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H.
- Về án phí
- 2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Được xem xét khi giải quyết lại vụ án
- 2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H không phải nộp.
Hủy bản án sơ thẩm số 2819/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T yêu cầu ly hôn với bà H
