Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 07-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lâm

Bà Trương Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiêm, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:199 /2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 241/2024/HSST-QĐ ngày 11/4/2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 259 ngày 23/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Cao C (tên gọi khác: Không); sinh ngày 04 tháng 04 năm 1984 tại Y, Ninh Bình.

Nơi cư trú: Tổ B, P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân C1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1958, có vợ là Bùi Thị G, sinh năm 1985; Có 3 con, con lớn sinh 2014, con nhỏ nhất sinh 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023 đến ngày 24/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Có mặt)

Người làm chứng:

- Ông Đặng Thanh D, sinh năm 1982; trú tại: số E B, tổ dân phố E, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 04 giờ 30 phút ngày 16/7/2022 tại Km267+400 Quốc lộ C thuộc xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Phòng Q phối hợp với Phòng C3 Công an tỉnh C thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện, bắt quả tang Đặng Thanh D (sinh năm 1982; trú tại số E B, tổ dân phố E, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng) điều khiển xe ô tô Toyota Inova-G, màu bạc, biển kiểm soát 15A-134.00 chở 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Tổ công tác đã tạm giữ người, phương tiện, các đồ vật, tài sản liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã H để điều tra làm rõ.

Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra, truy tố, Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng đã đưa vụ án ra xét xử, tuyên Đặng Thanh D phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày 21/3/2023.

Đồng thời, Cơ quan điều tra vẫn tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu đối với Nguyễn Cao C để mở rộng vụ án. Ngày 15/12/2023, C đến Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng đầu thú, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Nguyễn Cao C khai nhận: Trong tháng 7/2022, Nguyễn Cao C được một người đàn ông tên H (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) liên lạc thuê đến huyện T, tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép về địa phận thành phố Hà Nội, nếu trót lọt sẽ trả số tiền 12.000.000 đồng và C đồng ý. Tuy nhiên do bận việc cá nhân, không thể trực tiếp đi đón người nên C đã sử dụng số điện thoại 0981.041.xxx và tài khoản Zalo “Nguyễncườnghp” liên lạc với Đặng Thanh D đề nghị D đến tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nói trên. C cho D biết, người thuê trả tiền công đón khách là 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng)/người, C sẽ lấy 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng)/người, số còn lại là của D. D đồng ý. Sau đó, C giao cho D 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Inova-G, biển kiểm soát 15A-134.00 (chiếc xe này do C thuê với cửa hàng T của ông Đỗ Văn B- sinh năm 1965; địa chỉ K, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng) để làm phương tiện đi đón người và hẹn khi nào đi sẽ thông báo cho D.

Khoảng 18 giờ ngày 14/7/2022, C yêu cầu D đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng đón người. Sau đó, D điều khiển xe ô tô Toyota Inova-G, biển kiểm soát 15A-134.00 di chuyển từ thành phố Hải Phòng đến tỉnh Cao Bằng. Khi đến thị trấn T, D được C thông báo những người Trung Quốc chưa sang đến Việt Nam, bảo D tìm và thuê phòng nghỉ để chờ đón người.

Khoảng 02 giờ ngày 16/7/2022, C gửi cho D số điện thoại 0815.129.xxx bảo D liên lạc với số này để đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, ngoài ra C còn gửi định vị vị trí đón người vào zalo của D. D gọi vào số điện thoại trên thì được một người đàn ông hướng dẫn đi theo định vị đã được gửi cho trước đó đồng thời yêu cầu khi nào đến nơi thì bật xi nhan đôi của xe ô tô lên để làm tín hiệu. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, D lái xe đến địa điểm đón người thuộc xã Đ, huyện T, khi bật xi nhan xe ô tô lên được khoảng một phút thì có 03 người đàn ông Trung Quốc đi bộ đến và lên xe của D. Đón được người, D dùng điện thoại quay lại hình ảnh của 03 người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh trái phép đang ngồi ở trong xe ô tô và gửi video cho C, sau đó D điều khiển xe ô tô hướng ra thành phố C để về thành phố Hà Nội. Khi di chuyển đến địa phận xóm N, xã H, thành phố C, D bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSCB.P1 ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Nguyễn Cao C về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Cao C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố là đúng với hành vi đã thực hiện.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định quyết định truy tố đối với Nguyễn Cao C về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Cao C không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử xem xét được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Cao C tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung; lời khai của người làm chứng; biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; Trích xuất dữ liệu điện tử từ chiếc điện thoại thu giữ của Đặng Thanh D cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, có đủ căn cứ để kết luận:

Vào tháng 7/2022, Nguyễn Cao C được một người đàn ông tên H (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) liên lạc thuê đến huyện T, tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép về địa phận thành phố Hà Nội, nếu trót lọt sẽ trả số tiền 12.000.000 đồng và C đồng ý. Tuy nhiên do bận việc cá nhân, không thể trực tiếp đi đón người nên C đã sử dụng số điện thoại 0981.041.xxx và tài khoản Zalo “Nguyễncườnghp” liên lạc với Đặng Thanh D đề nghị D đến tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nói trên. C cho D biết, người thuê trả tiền công đón khách là 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng)/người, C sẽ lấy 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng)/người, số còn lại là của D.

Ngày 14/7/2022, D điều khiển xe ô tô Toyota Inova-G, biển kiểm soát 15A-134.00 từ thành phố Hải Phòng lên tỉnh Cao Bằng để đón người. Đến khoảng 02 giờ 30 ngày 16/7/2022, theo định vị C gửi, D điều khiển xe đến một địa điểm thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng đón được 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Sau đó, D điều khiển xe ô tô chở những người này hướng ra thành phố C đế về Hà Nội, khi di chuyển đến xóm N, xã H, thành phố C bị phát hiện, bắt quả tang. Đến ngày 15/12/2023, Nguyễn Cao C đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Cả CD đều chưa nhận được tiền công chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép.

Hành vi phạm tội của Đặng Thanh D đã được xét xử bằng một bán án có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại trong vụ án này. Đối với bị cáo Nguyễn Cao C, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, do bản thân kinh tế khó khăn nên đã phạm tội để được hưởng tiền công. Hành vi tổ chức đón người Trung Quốc vào Việt Nam mà không làm các thủ tục xuất, nhập cảnh của bị cáo Nguyễn Cao C đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo cung cấp phương tiện và là người trung gian trao đổi thông tin giữa người thuê đón người nhập cảnh và Đặng Thanh D (người trực tiếp đón người nhập cảnh trái phép). Bị cáo Nguyễn Cao C tham gia với vai trò giúp sức cho Đặng Thanh D và người đàn ông tên H thực hiện hành vi phạm tội. Việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe chung và giáo dục riêng đối với bị cáo, phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.

  1. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự;

Về tình tiết tăng nặng: không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố là ông Nguyễn Xuân C1 được Chủ tịch nước tặng thưởng về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc tế giúp cách mạng Campuchia. Ngoài ra khi biết có lệnh truy nã đối với mình bị cáo đã ra đầu thú do đó được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, tuy nhiên căn cứ theo quy định thì có thể áp dụng mức hình phạt dưới 3 năm tù; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; có khả năng tự cải tạo nên có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và các hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán nhân dân Tối Cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTPngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán nhân dân Tối Cao sửa đổi bổ sung một số điều của nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán nhân dân Tối Cao, hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Do vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung và thể hiện được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội thực sự ăn năn, hối cải, quyết tâm sửa chữa lỗi lầm của bản thân.

Xét thấy mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.

  1. Về hình phạt bổ sung:

Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không thu nhập ổn định, chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Về xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan An ninh điều tra đã trả 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Cao C là đúng quy định.
  1. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
  1. Về các vấn đề khác:

Đối với 03 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nhập cảnh trái phép bằng hình thức phạt tiền, sau đó được trao trả về Trung Quốc theo quy định.

Về người dùng số điện thoại 0815.129.xxx là người đưa 03 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến và giao ở Đ, T: qua xác minh thì người đăng ký sử dụng số điện thoại trên là Đinh Thị B1 (sinh năm 1970; địa chỉ N, T, Cao Bằng) và B1 không sử dụng số điện thoại này, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với người đàn ông tên H, C không biết thông tin gì về nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố:
  2. Bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Cao C 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/5/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Cao C cho Ủy ban nhân dân phường A, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục, trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo Nguyễn Cao C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Toà án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí:
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Cao C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Căn cứ các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Bị cáo Nguyễn Cao C có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh CB;
  • - Cơ quan ANĐT - CA tỉnh CB;
  • - Phòng HS Công an tỉnh CB;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Cục THA dân sự tỉnh CB;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án; HCTP;
  • - Lưu tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào tháng 7/2022, Nguyễn Cao C được một người đàn ông tên H (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) liên lạc thuê đến huyện T, tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép về địa phận thành phố Hà Nội, nếu trót lọt sẽ trả số tiền 12.000.000 đồng và C đồng ý. Tuy nhiên do bận việc cá nhân, không thể trực tiếp đi đón người nên C đã sử dụng số điện thoại 0981.041.688 và tài khoản Zalo “Nguyễncườnghp” liên lạc với Đặng Thanh D đề nghị D đến tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nói trên. C cho D biết, người thuê trả tiền công đón khách là 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng)/người, C sẽ lấy 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng)/người, số còn lại là của D. Ngày 14/7/2022, D điều khiển xe ô tô Toyota Inova-G, biển kiểm soát 15A-134.00 từ thành phố Hải Phòng lên tỉnh Cao Bằng để đón người. Đến khoảng 02 giờ 30 ngày 16/7/2022, theo định vị C gửi, D điều khiển xe đến một địa điểm thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng đón được 03 (ba) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Sau đó, D điều khiển xe ô tô chở những người này hướng ra thành phố C đế về Hà Nội, khi di chuyển đến xóm N, xã H, thành phố C bị phát hiện, bắt quả tang. Đến ngày 15/12/2023, Nguyễn Cao C đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Cả C và D đều chưa nhận được tiền công chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger