Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HSST

Ngày: 06/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Hồng Minh.

Ông: Nguyễn Văn Hinh.

-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh –Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Là – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/HSST- QĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T; Sinh năm: 1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT, nơi ở: Xóm A N, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Trần Văn T1; Sinh năm: 1955; Con bà: Đặng Thị H; Sinh năm: 1959; Có vợ: Nguyễn Thị M; Sinh năm 1987; Có 2 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/9/2023 đến 28/92023 chuyển tạm giam cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Xuân H1, sinh năm: 1963

Địa chỉ: Xóm A N, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa, anh H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 21/9/2023, bị cáo đi xe buýt từ nhà đến chân cầu Đ thuộc phường C, thành phố N với mục đích mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói heroine với giá 200.000 đồng, bị cáo cất giấu gói heroine vào trong người rồi bắt xe buýt đi về. Về nhà, bị cáo lấy gói heroine vừa mua được sử dụng một phần, số heroine còn lại bị cáo chia nhỏ vào 01 gói giấy bạc màu trắng và 01 gói giấy bạc màu vàng, 02 gói giấy bạc chứa heroine được bị cáo gói trong 01 gói giấy màu trắng và được bọc lớp nilon màu trắng bên ngoài, mục đích để bán nếu có người hỏi mua. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Trần Xuân H1 là bạn nghiện của bị cáo đã dùng điện thoại OPPO có sim số 0853.393.665 gọi điện thoại đến số 0907.096.xxx là số điện thoại của bị cáo để hỏi mua 100.000 đồng heroine. Bị cáo đồng ý bán và hẹn H1 đến nhà. Đến khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày, khi H1 đến ngõ nhà bị cáo, H1 đưa cho 100.000 đồng, bị cáo cầm tiền rồi đưa lại cho H1 01 gói nilon màu trắng, bên trong là gói giấy màu trắng trong gói giấy màu trắng là 02 gói heroine. H1 cầm gói heroine vừa mua được cất giấu vào túi áo ngực bên trái thì bị Công an xã T bắt và thu giữ ở túi áo ngực bên trái của H1 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng (bên trong gói giấy màu trắng có 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu trắng), trong 02 gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong kí hiệu M), H1 khai nhận đó là heroine vừa mua của bị cáo với giá 100.000 đồng; thu giữ của bị cáo số tiền 100.000 đồng. Bị cáo khai đây là tiền vừa bán heroine cho H1 mà có. Ngoài ra, Công an còn thu giữ của Trần Xuân H1 01 điện thoại di động OPPO và thu của bị cáo 01 điện thoại Samsung Galaxy J4 đã qua sử dụng. Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người chứng kiến và đưa bị cáo cùng Trần Xuân H1 về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T và Trần Xuân H1 cùng ở xóm A N, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, không thu giữ đồ vật, tài liệu.

Tại bản kết luận giám định số 1459/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,010 gam.

Ngày 06/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trưng cầu giám định trích xuất dữ liệu cuộc gọi trong sim số thuê bao 0907.096.758 (ký hiệu Al) của bị cáo; sim số thuê bao 0853.393.665 và sim số thuê bao 0948.143.468 (ký hiệu A2) của Trần Xuân H1. Tại bản kết luận giám định số 1510/KL-KTHS ngày 20/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Trích xuất được dữ liệu cuộc gọi trong sim số thuê bao 0907.096.758 từ 19 giờ 00 phút ngày 21/9/2023 đến 21 giờ 35 phút ngày 21/9/2023 trong mẫu gửi giám định ký hiệu A1 có 06 nhật ký cuộc gọi với sim số thuê bao 0853.393.665.

Đối với 01 phong bì niêm phong số 1459/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của phòng K Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực để xử lý.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động OPPO của Trần Xuân H1 và 01 điện thoại di động S J4 của bị cáo. Quá trình điều tra xác định H1 và T đã dùng 02 điện thoại di động trên để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực để xử lý.

Đối với số tiền 100.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tiền bị cáo bán ma túy cho Trần Xuân H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực để xử lý.

Bản cáo trạng số: 59/CT-VKS ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng hiện đang lưu trữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự theo ủy nhiệm chi ngày 06/11/2023 của Công an huyện N và 01 điện thoại Sam sung của bị cáo và 01 điện thoại di động OPPO của Trần Xuân H1 có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực; Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin đựng trong phong bì thư có ghi só 1459/ KL- KTHS có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thông nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/9/2023; biên bản khám xét ngày 22/9/2023; bản kết luận giám định số 1459/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, lời khai của Trần Xuân H1... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 21/9/2023, tại khu vực ngõ nhà bị cáo tại xóm A N, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo có hành vi bán trái phép 0,010 gam heroine cho Trần Xuân H1 với giá 100.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Ngoài ra, bố bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của UBND xã T. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội. Bản thân bị cáo mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân. Tuy nhiên, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của UBND xã T nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo do bán ma túy cho H1 mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; số hêroin là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; nên tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Bị cáo và H1 dùng điện thoại để liên hệ với nhau để thỏa thuận mua, bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Sam sung của bị cáo và 01 điện thoại di động OPPO của Trần Xuân H1 có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.

[6] Đối với Trần Xuân H1 có hành vi tàng trữ 0,010 gam heroine để sử dụng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Đối với người đàn ông đã bán hêroin cho bị cáo, Cơ quan CSĐT Công an huyện N chưa xác định được lai lịch nên không có căn cứ điều tra xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt Trần Văn T 30(Ba mươi) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 21/9/2023.

2.Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng hiện đang lưu trữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự theo ủy nhiệm chi ngày 06/11/2023 của Công an huyện N và 01 điện thoại Sam sung của bị cáo và 01 điện thoại di động OPPO của Trần Xuân H1 có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực; Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin đựng trong phong bì thư có ghi só 1459/ KL- KTHS có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.

3.Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Nam Định;
  • -VKSND tỉnh+huyện;
  • -Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • -Công an huyện Nam Trực;
  • - UBND xã Tân Thịnh;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu HS+VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger