Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC NINH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ – ST

Ngày 06-9-2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Ri
  2. Bà Trần Xuân Đạm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1972 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc D, sinh năm 1968 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D có tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1993 và đăng ký kết hôn lại lần 2 là ngày 12/01/2024, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống tự lập tại ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 3 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông D không lo làm ăn kinh tế, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng nhau, vu khống bà ngoại tình với người khác, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc.

Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Thu H làm đơn xin được ly hôn với ông Nguyễn Phúc D.

  • + Về con chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D có 02 con chung:
    1. Nguyễn Phúc P, sinh năm 1994
    2. Nguyễn Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 2004

Khi ly hôn các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • + Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thu H khẳng định tự thỏa thuận về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Về nợ chung: Bà Lê Thị Thu H khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Phúc D trình bày:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phúc D thống nhất lời trình bày của bà Lê Thị Thu H về quan hệ hôn nhân, thời gian chung sống. Trong quá trình sống chung, ông Nguyễn Phúc D thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do không thấu hiểu nhau dẫn đến bất đồng quan điểm. Nay bà Lê Thị Thu H xin ly hôn thì ông Nguyễn Phúc D không đồng ý ly hôn vì còn thương bà Lê Thị Thu H và đồng thời ông D chưa đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 10 căn nhà trọ tọa lạc tại huyện B, tỉnh Bình Dương nên chưa đồng ý ly hôn với bà H.
  • + Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Phúc P, sinh năm 1994 và Nguyễn Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 2004. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Về tài sản chung: Tại phiên tòa ông Nguyễn Phúc D vẫn khẳng định tự thỏa thuận về tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.
  • + Về nợ chung: Ông Nguyễn Phúc D khẳng định không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

  • - Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.
  • - Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H.
    • + Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Phúc D.
    • + Về con chung: Con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
    • + Về tài sản chung: Các đương sự khẳng định tự thỏa thuận và không yêu cầu nên không xem xét.
    • + Về nợ chung: Các đương sự khẳng định không có và không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Thị Thu H có đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Phúc D tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình làm việc xác định ông Nguyễn Phúc D cư trú tại huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Do đó hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D là hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa thì bà Lê Thị Thu H cho rằng vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 3 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do ông D không lo làm ăn kinh tế, thường xuyên cãi vã dẫn đến bất đồng quan điểm. Nay nhận thấy vợ chồng không thể quay lại sống chung với nhau được nữa nên bà Lê Thị Thu H xin được ly hôn với ông Nguyễn Phúc D. Ông Nguyễn Phúc D thừa nhận ông D và bà H có mâu thuẫn do không thấu hiểu nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, nay bà Lê Thị Thu H yêu cầu được ly hôn thì ông D không đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Thu H.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Phúc D và bà Lê Thị Thu H đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn với nhau, dẫn đến bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không đưa ra được biện pháp hàn gắn tình cảm gia đình. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Phúc D.

Về con chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D đều xác định có 02 người con chung tên Nguyễn Phúc P, sinh năm 1994 và Nguyễn Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 2004. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D khẳng định tự thỏa thuận về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D khẳng định không có nợ chung nên không yêu cầu. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Lê Thị Thu H phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Lộc Ninh là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 39 Bộ luật dân sự;
  • - Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Phúc D.
  2. Về con chung: Con chung đã trưởng thành các đương sự không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D khẳng định tự thỏa thuận về tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Phúc D khẳng định không có nợ chung và không yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số: 0006397 ngày 01/7/2024.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, lên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKS huyện Lộc Ninh;
  • - THADS huyện Lộc Ninh;
  • - UBND xã Lộc Điền;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ – ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho bà H ly hôn với ông D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger