Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Biểu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Trường và ông Phạm Văn Hiệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/TLST-HS ngày 09/4/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

* Phạm Văn T, sinh 1985, tại: huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; HKTT: Thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Con ông: Phạm Văn T1 (Đã chết); Con bà: Trịnh Thị C; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên;
  2. Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1988, trú tại thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên;
  3. Ông Hoàng T3, sinh năm 1976, trú tại thôn V, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên;
  4. Ông Đỗ Trung Đ1, sinh năm 1982, trú tại thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

Người chứng kiến:

  1. Ông Mai Văn D, sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên;
  2. Bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2024, Phạm Văn T sinh năm 1985, trú tại thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đã sử dụng tài khoản zalo có tên “Pham Tiep” đã đặt mua 48 hộp pháo nổ, loại giàn 36 quả trên mạng xã hội của một người đàn ông tên P (T không nhớ cụ thể tên tài khoản đăng nhập, họ tên và địa chỉ của P) với giá 300.000 đồng/01 hộp, tổng số tiền 14.400.000 đồng và hẹn thời gian, địa điểm giao hàng tại B, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Theo thỏa thuận, T đặt cọc trước cho anh P số tiền 6.500.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của T đến số tài khoản của P cung cấp. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 13/01/2024, P gọi điện cho T thông báo đã thuê xe chở pháo để giao cho T. Tiếp đó có anh Hoàng T3, sinh năm 1976 trú tại thôn V, xã H, huyện K làm nghề lái xe tải gọi điện thông báo cho T về việc đã nhận chở thuê hàng đựng trong 02 bao tải dứa màu xanh cho một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) từ Đà Nẵng về Hưng Yên để giao cho T. Để thuận tiện cho việc nhận hàng, T thỏa thuận đề nghị anh T3 giao hàng tại khu vực chợ N thuộc thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên, T3 đồng ý và thuê anh Đỗ Trung Đ1, sinh năm 1982, trú tại thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên chở T3 cùng 02 bao tải dứa màu xanh đựng hàng đến khu vực cầu N để giao cho T.

Theo thỏa thuận, T điều khiển xe ô tô, biển số 35A-091.31, màu trắng nhãn hiệu Susuki của T đến khu vực cầu N để nhận hàng T3 giao. Tại đây, T3 đã chuyển 02 bao hàng (Pa gửi) sang xe ô tô của T. Sau khi kiểm tra là pháo đã đặt của anh P, T vận chuyển về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T đang điều khiển xe ô tô chở 48 hộp pháo về đến khu vực thôn T, xã H, huyện  thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng, gồm: 02 bao tải dứa màu xanh đựng 02 thùng bìa cattong, bên trong mỗi thùng chứa 24 hộp (tổng 2 thùng chứa 48 hộp) hình chữ nhật nhiều màu sắc, bốn mặt xung quanh có nhiều chữ nước ngoài (niêm phong A1, A2); 01 xe ô tô, biển số 35A-091.31; 01 điện thoại Oppo màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T và thu trên người Tiệp số tiền 1.400.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra T khai nhận: Trước đó khoảng đầu tháng 12/2023, T đã liên hệ qua mạng xã hội với anh P để mua 42 hộp pháo nổ với số tiền 12.600.000 đồng (300.000 đồng/1 hộp) bán cho anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1989 ở cùng thôn với T với số tiền 31.500.000 đồng (750.000 đồng/1 hộp) và mua 48 hộp pháo nổ với số tiền 14.400.000 đồng sau đó bán cho anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1988, trú tại thôn L, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên với tổng số tiền 43.200.000 đồng (900.000 đồng/1 hộp). Anh Đ và anh T2 đã thanh toán hết số tiền đã mua pháo của T bằng hình thức trả tiền mặt. Tuy nhiên, anh Đ, anh T2 chỉ thừa nhận mỗi người mua 02 hộp pháo nổ của T với giá 750.000 đồng/1 hộp và 900.000 đồng/1 hộp. Ngoài ra, anh T2 còn tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 hộp pháo nổ sau khi đã đốt hết (không có nhãn mác), anh Đ giao nộp phần còn lại của 02 hộp pháo đã đốt hết (bệ pháo bị biến dạng do ngâm nước). Do phần còn lại không có nhãn mác và bị biến dạng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để trưng cầu giám định xác định khối lượng pháo nổ mà T đã bán cho anh T2 và anh Đ mà chỉ có căn cứ chứng minh việc T đã bán cho anh Đ 02 hộp pháo nổ và anh T2 02 hộp pháo nổ, thu lợi bất chính số tiền 3.300.000 đồng nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T về hành vi này.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn T, anh Phạm Văn Đ tại thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên và chỗ ở của Nguyễn Đình T2 tại thôn L, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Không thu giữ tài liệu, đồ vật gì thêm.

Ngày 18/01/2024, chị nguyễn Thị H1 (vợ T) đã giao nộp: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 35A-091.31 (bản gốc) mang tên Bùi Đức Q; 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 Giấy bán xe ô tô trên ngày 18/3/2021 giữa anh Đỗ Văn T5 và Phạm văn T6.

Tại Bản kết luận giám định số: 64/KL-KTHS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Các vật hình hộp chữ nhật trong niêm phong ghi ký hiệu A1, có tổng khối lượng là 29,00kg là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ). Các vật hình hộp chữ nhật trong niêm phong ghi ký hiệu A2, có tổng khối lượng là 29,00kg là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ). H2 lại mẫu vật sau giám định gồm: 55,60 kg pháo nổ.

Quá trình điều tra bị can Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của T phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Đối với người đàn ông tên P đã bán pháo nổ cho Tiệp quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng nên không có căn cứ xử lý.

Đối với số tài khoản P cung cấp để T chuyển tiền. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ tài khoản, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi của Phạm Văn Đ và Nguyễn Đình T2, mỗi người đã mua của T 02 hộp pháo nổ để đốt trong dịp Tết nguyên đán. Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã có công văn đề nghị Công an huyện  ban hành quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng pháo trái phép.

* Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H đã quản lý: 02 bao tải dứa; 01 xe ô tô, biển số 35A-091.31; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 35A-091.31 mang tên Bùi Đức Q; 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô trên; 01 điện thoại Oppo màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T; 01 hộp bìa catton bên trong có chứa 01 hộp pháo nổ sau khi đã đốt hết và 01 hộp bìa cattong bên trong có chứa phần còn lại của 02 hộp pháo đã đốt hết (bệ pháo bị ngâm nước, biến dạng). Hiện toàn bộ các vật chứng này đang quản lý tại kho vật chứng của Công an tỉnh H.

Đối với số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của T. Cơ quan điều tra đã nộp số tiền trên vào tài khoản tạm thu tại Kho bạc nhà nước tỉnh H chờ xử lý.

Cáo trạng số 42/CT-VKS-P3 ngày 09/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Truy thu của bị cáo Phạm Văn T số tiền thu lợi bất chính 3.300.000 đồng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Phạm Văn T không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã đuọc thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 13/01/2024, tại thôn T, xã H, huyện Â, Phạm Văn T đã có hành vi mua 58 kg pháo hoa nổ của một người có tên P với mục đích để bán kiếm lời. Trước đó, khoảng tháng 12/2023, T đã mua pháo của P để bán cho anh Phạm Văn Đ 02 hộp pháo nổ và anh Nguyễn Đình T2 02 hộp pháo nổ, thu lợi bất chính với số tiền 3.300.000 đồng.

Bị cáo Phạm Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm theo Điều 190 Bộ luật Hình sự; bị cáo buôn bán với khối lượng 58kg pháo hoa nổ nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các loại pháo nổ và pháo hoa nổ. Đây là loại hàng hoá Nhà nước cấm, không cho phép buôn bán, tiêu thụ rộng rãi mà chỉ các tổ chức, cá nhân được Nhà nước cấp phép mới được sản xuất và bán ra thị trường, nhưng vì mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân; gia đình bị cáo có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn xin cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vị phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do đó, xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi, tuy nhiên bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Truy thu của bị cáo số tiền 3.300.000 đồng bị cáo có được do bị cáo bán cho anh Phạm Văn Đ 02 hộp pháo nổ và anh Nguyễn Đình T2 02 hộp pháo nổ là tiền thu lợi bất chính sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại Oppo màu đen bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 35A-091.31 (có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 35A-091.31 mang tên Bùi Đức Q) liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là tài sản chung của bị cáo Phạm Văn T và vợ là chị Nguyễn Thị H, chị H không biết bị cáo dùng xe ô tô đi mua pháo nên tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô trên và trả lại cho chị Nguyễn Thị H ½ giá trị chiếc xe ô tô trên.
  • Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô trên; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T là giấy tờ tùy thân và không liên quan tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
  • Đối với số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo.
  • Đối với: 02 hộp bìa catton ghi số 64/KL-KTHS được niêm phong ghi ký hiệu lần lượt là H1, H2 bên trong chứa 58,00 kg pháo nổ; 02 bao tải dứa; 01 hộp bìa catton bên trong có chứa 01 hộp pháo nổ sau khi đã đốt hết và 01 hộp bìa cattong bên trong có chứa phần còn lại của 02 hộp pháo đã đốt hết (bệ pháo bị ngâm nước, biến dạng), là các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt:

  • Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình Sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2024.

[2] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Truy thu của bị cáo Phạm Văn T số tiền 3.300.000 đồng sung ngân sách Nhà nước;
  • Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Phạm Văn T: 01 điện thoại Oppo màu đen đã qua sử dụng;
  • Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 35A-091.31 (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển số 35A-091.31 mang tên Bùi Đức Q).
  • Trả lại cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, trú tại thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên ½ giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 35A-091.31.
  • Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T: 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô biển số 35A-091.31; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn T.
  • Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của bị cáo đang gửi tại tài khoản tạm thu tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H.
  • Tịch thu, tiêu hủy: 02 thùng bìa catton ghi ký hiệu lần lượt là H1, H2 bên trong chứa 58,00 kg pháo nổ; 02 bao tải dứa; 01 thùng bìa catton niêm phong ghi ký hiệu “PVĐ”, và 01 thùng bìa catton niêm phong ghi ký hiệu “NĐT”
    (Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Công an tỉnh H; Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 01 năm 2024 giữa Công an tỉnh H và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H.)

[3] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Biểu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T- Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger