Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 06-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Yến

2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 07/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1933; con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1947; vợ: Võ Thị H, sinh năm 1983, con: bị cáo có một con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân Thân: + Bản án số 21/2002/HSST ngày 08/3/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn T 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong án phí và hình phạt tù.

+ Bản án số 27/2014/HSST ngày 28/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2017.

Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/03/2024 đến nay, bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, được trích xuất, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Đào Nam T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Y, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 24/3/2022, Nguyễn Văn T đến nhà anh Đào Nam T1 hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade, màu sơn đen, đỏ, biển kiểm soát (BKS) 98B3-399.75 của anh T1 để đi đón vợ là chị Võ Thị H, sinh năm 1983 ở thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, anh T1 đồng ý. Sau đó T hỏi mượn giấy chứng nhận đăng ký của xe mô tô trên nhưng anh T1 không đồng ý, anh T1 hẹn T đến buổi chiều T phải mang xe về trả cho anh T1. Theo T khai sau khi mượn được xe mô tô BKS 98B3-399.75 thì T điều khiển thẳng đến thị trấn K, huyện L để đón vợ nhưng không đón được. Do thiếu tiền chi tiêu nên trên đường về T đã nảy sinh ý định đem chiếc xe mô tô BKS 98B3-399.75 trên đi cầm cắm lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô BKS 98B3-399.75 đi đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1982 trú tại thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang đặt vấn đề bán chiếc xe mô tô trên cho anh M. Anh M hỏi nguồn gốc xe thì T trả lời là xe của T, còn giấy tờ xe mô tô thì T để ở nhà và T hẹn sẽ đưa giấy tờ xe cho anh M sau. Tin tưởng T anh M có thỏa thuận và viết giấy mua bán chiếc xe mô tô trên với giá 15.000.000 đồng. Sau khi bán xe mô tô cho anh M thì T bỏ trốn khỏi địa phương và chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Đến khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, anh T1 không thấy T đem chiếc xe mô tô về trả như đã hẹn nên đã gọi điện nhưng T không nghe máy. Anh T1 đến nhà T tìm nhưng không thấy T và xe mô tô. Anh T1 nhắn tin hỏi T thì T nói đã mang xe của anh T1 đi bán.

Ngày 25/3/2022 anh T1 đã làm đơn trình báo; cùng ngày anh Nguyễn Văn M giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade, màu sơn đen, đỏ, BKS 98B3-399.75 và 01 giấy cam kết bán xe máy được lập ngày 24/3/2022. Ngày 08/3/2024, T bị bắt theo Quyết định truy nã.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 29/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen đỏ, loại xe AirBlade, biển kiểm soát 98B3-399.75 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 34.510.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 654 ngày 25/4/2022 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

- Dấu vết đường vân ký hiệu số 1 trên “Giấy cam kết bán xe máy” với dấu vân tay in ở ô ngón “Trỏ trái” trên chỉ bản số [...] ghi tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 08/4/1976, nơi ĐKNKTT Bảo Sơn, Lục Nam lập ngày 07/3/2001 tại xã B, huyện L là của cùng một người.

- Dấu vết đường vân ký hiệu số 2 trên “Giấy cam kết bán xe máy” với dấu vân tay in ở ô ngón “Trỏ phải” trên chỉ bản số [...] ghi tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 08/4/1976, nơi ĐKNKTT Bảo Sơn, Lục Nam lập ngày 07/3/2001 tại xã B, huyện L là của cùng một người.

Đối với anh Nguyễn Văn M đã mua chiếc xe mô tô trên của T nhưng khi mua anh M không biết tài sản là do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen đỏ, loại xe AirBlade, BKS 98B3-399.75 cho anh Đào Nam T1. Anh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Nguyễn Văn M yêu cầu bị can phải trả anh số tiền 15.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 63/CT-VKS ngày 21/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175- Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho anh Nguyễn Văn M số tiền 15.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng hơn 15 giờ ngày 24/3/2022, Nguyễn Văn T đến nhà anh Đào Nam T1, sinh năm 1989 ở thôn Y, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen đỏ, loại xe AirBlade, biển kiểm soát 98B3-399.75 để đi đón vợ và hẹn chiều cùng ngày sẽ mang xe trả. Sau đó do không có tiền chi tiêu cá nhân nên T đã mang chiếc xe mô tô trên đến bán cho anh Nguyễn Văn M với giá 15.000.000 đồng khi không được sự đồng ý của anh T1 rồi bỏ trốn. Trị giá chiếc xe mô tô Thống chiếm đoạt của anh T1 là 34.510.000 đồng. Tài sản đã thu hồi được trả lại cho bị hại.

[3] Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Văn Thống H1 (đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản) đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen đỏ, loại xe AirBlade, biển kiểm soát 98B3-399.75 của anh Đào Nam T1 trị giá 34.510.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175- Bộ luật hình sự.

[4] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T có hai nhân thân đó là:

  • + Bản án số 21/2002/HSST ngày 08/3/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn T 02 năm tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong án phí và hình phạt tù.
  • + Bản án số 27/2014/HSST ngày 28/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2017.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T khi quyết định hình phạt.

[7] Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi Trộm cắp tài sản và đã có thời gian đi chấp hành hình phạt tù. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục nên cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Như vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội như đại diện VKSND huyện Lục Nam đã phát biểu về đường lối giải quyết vụ án.

[8] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm do bị cáo thực hiện, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX thấy bị cáo hiện nay không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định do sau khi phạm tội đã bị tạm giam, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn M yêu cầu bị cáo phải trả cho anh M số tiền 15.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đồng ý trả cho anh M số tiền 15.000.000 đồng.

Xét thấy: Việc bị cáo T đồng ý trả cho anh M số tiền 15.000.000 đồng là do bị cáo hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc bị cáo nên cần chấp nhận.

[10] Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329- BLTTHS.

[11] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen đỏ, loại xe AirBlade, BKS 98B3-399.75 là của anh Đào Nam T1. Ngày 19/4/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho anh Đào Nam T1, anh T1 nhận đủ và không có yêu cầu gì, HĐXX thấy cần chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 48 của Bộ luật hình sự;

Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 - BLTTHS và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho anh Nguyễn Văn M số tiền 15.000.000 đồng.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi Cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Oanh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yến- Đỗ Thị Hoài Mơ Nguyễn Ngọc Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger