TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HS-ST
Ngày 06-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Ông Nguyễn Tấn Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Minh Tồn - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2002 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị P; vợ là Phạm Như H; con có 01 người sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024, chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt);
- + Anh Đoàn Văn D, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu phố D, Thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc phát hiện có một đối tượng nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực Cống Xẻo N thuộc ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Lúc 13 giờ 15 phút ngày 22/01/2024, Công an huyện A kết hợp với Đồn Biên phòng C và Công an xã T tiến hành chốt chặn, kiểm tra phát hiện đối tượng Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Công an đã thu giữ 01 tấm khăn giấy màu trắng bên trong có chứa một gói nylon trong suốt hàn kín, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma tuý. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật.
Tại Cơ quan điều tra Trần Văn T khai nhận: Vào khoảng trưa ngày 22/01/2024 bị can Trần Văn T chạy xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu xanh đen, mang biển kiểm soát 68M1 – 342.73 của anh Trần Văn Đ (cha ruột T) đi từ ngã tư X đến ngã tư thứ 10 B để giao mực. Khi đi đến kênh giữa Xẻo N - X thì gặp người thanh niên (không rõ nhân thân, địa chỉ) chỉ biết quen mặt và biết bán ma tuý nên T hỏi mua ma tuý đá 200.000 đồng thì nam thanh niên lấy tiền rồi quăng ma tuý đá xuống đất cho T một tấm khăn giấy màu trắng bên trong chứa 01 gói nylon là ma tuý đá. T lấy ma tuý đá bỏ vào túi quần rồi tiếp tục chạy xe đi giao mực. Sau đó, T về nhà mua bán hải sản tiếp gia đình đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, do xe hư dây sên nên T dẫn bộ đi sửa đến đoạn Cống kênh dân quân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang nên T ném ma tuý đá xuống đất.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số vật chứng gồm:
- 01 gói nylon trong suốt hàn kín bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma tuý; 01 tấm khăn giấy đã qua sử dụng được thu giữ cạnh vị trí Trần Văn T đang đứng.
- 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu Honda Wave RSX, mang biển kiểm soát 68M1-342.73, đã qua sử dụng do Trần Văn T đang sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số: 84/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận:
Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2383 gam.
Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu Honda Wave RSX, mang biển kiểm soát 68M1-342.73 do anh Trần Văn Đ đứng tên chủ sở hữu dùng để đi mua bán hải sản để sinh sống. Anh Đ không biết việc bị can T sử dụng xe đi mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Đ là phù hợp.
Tại cáo trạng số 46/CT-VKS-AM ngày 02-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn Tường về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo Trần Văn T thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người liên quan anh Đ: xác định đã nhận lại xe, không yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 22/01/2024, tại khu vực Cống Xẻo N thuộc ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do Trần Văn T mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Trần Văn T tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2383 gam.
[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,2383 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Thấy, bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, đang phải phụ giúp gia đình nuôi con nhỏ nên có phần giảm nhẹ, chỉ cần xử phạt ở đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng, đối với số ma túy là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe máy đã được trả cho anh Đ nên không xét.
[6] Về án phí, bị cáo Trần Văn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với người bán ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được lai lịch, nhân thân nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số: 66/2024, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T1, người chứng kiến niêm phong Trần Nhựt Huynh và các dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh K; 01 (một) tấm khăn giấy đã qua sử dụng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/5/2024).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Văn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 06-6-2024); người có liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
