Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn, bà Võ Thị Thanh Phương.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 06/TB-TA ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Minh H, sinh năm 1990; nơi sinh: C, An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Đặng Minh H1 và bà Nguyễn Thị Tuyết N, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; đang chấp hành án tại Trại giam X, tỉnh Đồng Nai từ ngày 19/12/2023 cho đến nay, (có mặt).

Bị hại: Ông Ngụy Văn T, sinh năm 1950, nơi cư trú: Tổ 27, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

Người làm chứng:Bà Lâm Thu L, (vắng mặt); ông Đặng Minh S, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 11/12/2016, ông Ngụy Văn T1 giao cho Đặng Minh H (là người làm thuê cho gia đình T2), 01 chiếc xe mô tô biển số 67F2-3054 và 01 kiện hàng gồm ống nước bằng nhựa và lưới, kêu H chở số hàng trên đến chợ C thuộc phường V, thành phố C giao cho Huỳnh Văn N1 và

nhận 4.500.000 đồng đem về cho ông T. Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở số hàng này đến giao cho N1 và nhận 4.500.000 đồng, lúc này H nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 4.500.000 đồng của ông T để lên tỉnh Bình Dương thăm bạn gái tên Lý Thị T3 nên H điều khiển xe mô tô đến nhà nội tại khóm D, phường C, thành phố C để xe lại đây, còn số tiền 4.500.000 đồng H chiếm đoạt đi lên tỉnh Bình Dương Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, thấy H không về, ông T cùng vợ là bà Lâm Thu L đến nhà H tìm nhưng không gặp mà gặp ông Đặng Minh S (chú ruột H), L kể lại sự việc của H cho ông S nghe, khi biết được sự việc ông S giao trả xe mô tô biển số 67F2-3054 cho ông T. Đến ngày 14/12/2016, ông T đến Công an phường C, trình báo.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSCĐ-HS ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Đặng Minh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 140, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 51 và Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: xử phạt Đặng Minh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù; áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật; về hình phạt bổ sung: không; về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến

việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Đối với lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 được sử đổi bổ sung năm 2009. Xét thấy, hành vi của bị cáo được thực hiện vào ngày 11/12/2016 trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 06 tháng nến 03 năm, trong khi tại khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung 2009 có khung hình phạt từ 03 tháng đến 03 năm. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội, việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 để xem xét, giải quyết là có lợi cho bị cáo và đúng quy định pháp luật nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 11/12/2016, bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của ông Ngụy Văn T, giao bị cáo chở hàng hóa cho khách hàng và nhận số tiền 4.500.000 đồng để mang về giao lại cho ông T nhưng sau khi nhận được tiền, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền này và bỏ trốn lên Bình Dương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 được sử đổi bổ sung năm 2009 có khung hình phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì hám lợi, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà bất chấp thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định theo đề nghị của Kiểm sát viên để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp nên hiểu biết

pháp luật có phần hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Trước lần bị xét xử hôm nay, vào ngày 25/9/2023, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 327/2023/HSST. Cho nên, tổng hợp hình phạt theo bản án nêu trên với hình phạt của lần xét xử này, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo Điều 51, khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông T không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập để xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 và khoản 1 Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sử đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội:

Xử phạt bị cáo Đặng Minh H 07 (bảy) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 327/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Đặng Minh H phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt chung của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/6/2023 theo bản án hình sự sơ thẩm số 327/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đặng Minh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Đặng Minh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng

thời hạn kháng cáo của bị hại ông Ngụy Văn T vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 07 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger