Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 04-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng

Ông Hoàng Quốc Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Văn Từ S (tên gọi khác: K) sinh ngày 04 tháng 6 năm 1987 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường H, quận H, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn T, sinh năm 1950 và bà Trần Thị N, sinh năm 1955. Có vợ đã ly hôn và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án: ngày 17/01/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2021, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 05/3/2024 bị Công an quận T, Tp Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023. Có mặt.
  2. Nguyễn Phạm Ưu T1 (tên gọi khác: Không) sinh ngày 13 tháng 8 năm 1986 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường P, quận H, Tp Đà Nẵng; Chỗ ở hiện tại: A T, phường H, quận H, Tp Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị Thanh M, sinh năm 1960. Có vợ là Trần Thị Ý N1 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án: Ngày 22/11/2019 bị Tòa án nhân dân Tp Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2023; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/9/2006 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, ngày 14/12/2006 đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; Ngày 01/4/2010 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm ngày 05/5/2010, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/8/2010; Ngày 22/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buốc thời hạn 13 tháng; Ngày 05/3/2024 bị Công an quận T, Tp Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 1994. Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường X, quận T, Tp Đà Nẵng. hiện trú tại: K P, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 12/10/2023, Nguyễn Văn Từ S gặp Nguyễn Phạm Ưu T1 đang điều khiển xe môtô Vespa biển kiểm soát 43C1-67294 đang đi trên đường D, Q. T, TP ., tại đây S nhờ T1 đi cùng về nhà cha mẹ của S tại số D đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để S trả xe cho ba mẹ rồi cùng đi uống cà phê thì T1 đồng ý. Sau khi trả xe cho ba mẹ, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, S liên lạc với một người đàn ông tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) có số điện thoại 0935.990.xxx hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì Đ đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực ngã ba đường K - L, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, S nhờ T1 chở đi có chút việc, S liền điều khiển xe môtô Vespa biển số 43C1-67294 chở T1 đi đến chỗ hẹn rồi đi bộ một mình đến đưa cho Đ 500.000 đồng thì được Đ chỉ đến khu vực đường H - P, TP . để lấy một gói thuốc lá bên trong có 01 gói ma túy đá, đến nơi S nhờ T1 lấy giúp gói thuốc lá này, khi T1 mở gói thuốc lá ra thì thấy bên trong có 01 gói ma túy đá nên đã nói cho S và được S nhờ giữ giúp thì T1 vứt gói thuốc lá và cầm gói ma túy đá trong bàn tay trái. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi S chở T1 đi đến ngã tư đường D và L, P. Thanh Khê T, Q . T, Đà Nẵng thì bị lực lượng phòng chống ma tuý và tội phạm bộ đội Biên phòng thành phố Đ phối hợp với Đồn biên phòng P1, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang, thu giữ trong bàn tay trái của T1 01 (một) gói nilong kích thước khoảng 04cm x 08cm, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu T1, theo S và T1 khai gói ma túy đá trên của S mua nhờ T1 giữ giúp để S sử dụng.

Tại Bản Kết luận giám định số 884/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của Phòng K1 Công an T5 kết luận: “Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể mẫu T1: 0,558 gam."

Qua xác minh, chủ thuê bao số điện thoại 0935.990.xxx là chị Nguyễn Thị Phương T3. Qua điều tra xác định, T3 đăng ký và sở hữu sim số điện thoại 0935.990.xxx từ tháng 8 năm 2019, đến năm 2020, P làm rơi mất sim số trên nên T3 chưa làm lại sim và không sử dụng sim số này nữa, T3 cũng không quen biết người đàn ông nào tên Đ.

Qua thử nước tiểu, Nguyễn Văn T4 Sinh dương tính với chất ma tuý Methamphetamine, S khai nhận cách ngày bị bắt khoảng 1 tuần, S có sử dụng ma tuý 1 mình, nguồn gốc ma tuý do bạn ngoài xã hội cho để sử dụng.

Qua thử nước tiểu Nguyễn Phạm Ưu T1 dương tính với chất ma túy MDMA, T1 khai nhận sử dụng ma tuý 1 mình tại nhà vào ngày 06/10/2023, nguồn gốc ma tuý do bạn ngoài xã hội cho để sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của S tại nhà số A T, tổ B, phường H, quận H, TP . và chỗ ở của T1 tại nhà số A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, không tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

  • Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 884/KL-KTHS ngày 17/10/2023, ký hiệu T1 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1, Công an T5.
  • Thu giữ của Nguyễn Văn Từ S: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số Imei: 868683045289398, gắn sim số: 0779424424.
  • Thu giữ của Nguyễn Phạm Ưu T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, số Imei: 353292070330010, gắn sim số: 0913444409.

Những vật chứng và tài sản trên chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê bảo quản chờ xử lý.

Đối với 01 xe môtô hiệu Vespa màu cam, biển kiểm soát 43C1-67294, số khung RP8M82510HV005619, số máy: M82EM5018866. Qua xác minh, xe trên do anh Huỳnh Công N2 (sinh năm: 1992; trú tại: 2 Đ, P. T, Q, H, thành phố Đà Nẵng) đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 10/05/2017, anh N2 cho vợ mượn xe đi làm thì bị mất trộm, anh N2 đã đến Công an phường H, quận T, TP . trình báo. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Phạm Ưu T1 cùng vợ là Trần Thị Ý N1 (đã ly hôn năm 2022) mua lại chiếc xe trên vào năm 2018 tại một quán game bắn cá trên đường T, Tp Đà Nẵng (không rõ địa chỉ cụ thể), hiện T1 mượn xe trên của vợ để đi lại hàng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Từ S, Nguyễn Phạm Ưu T1 khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số 31/CT- VKS ngày 22 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn Từ S, Nguyễn Phạm Ưu T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Từ S, Nguyễn Phạm Ưu T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng:

  • Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 Sinh từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy:
    • Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 884/KL-KTHS ngày 17/10/2023, ký hiệu T1 của Phòng K1 Công an thành phố T5.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1:
    • 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, số Imei 353292070330010, gắn sim số 0913444409, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
    • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imei 868683045289398, gắn sim số 0779424424.

Bị cáo Nguyễn Văn Từ S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn Từ S, Nguyễn Phạm Ưu T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 12 tháng 10 năm 2023, tại ngã tư đường D T và L, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng, lực lượng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên Phòng thành phố Đ phối hợp với Đồn Biên phòng P1, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang Nguyễn Văn Từ SNguyễn Phạm Ưu T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,558 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Do đó hành vi của Nguyễn Văn Từ SNguyễn Phạm Ưu T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 31/CT- VKS ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân của các tội phạm khác gây mất an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn phạm tội.

Bị cáo S là người liên hệ và bỏ tiền ra mua ma túy để sử dụng, bị cáo T1 là người giữ giùm ma túy cho bị cáo S. Bị cáo ST1 đều có tiền án về tội phạm về ma túy chưa được xóa án tích, đều có nhân thân xấu là ngày 05/3/2024 bị Công an quận T, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo T1 còn 02 lần bị xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc. Do đó cần phải xét xử nghiêm khắc, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn Từ SNguyễn Phạm Ưu T1 đều có tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo. Gia đình bị cáo T1 có công cách mạng, có bà nội là bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, cha được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, ông ngoại được huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo T1.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 884/KL-KTHS ngày 17/10/2023, ký hiệu T1 của Phòng K1 Công an thành phố T5 là vật chứng vụ án, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, số Imei 353292070330010, gắn sim số 0913444409 là tài sản của bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imei 868683045289398, gắn sim số 0779424424 là điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn Từ S sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn Từ S, Nguyễn Phạm Ưu T1, Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Đối với nam thanh niên tên Đ bán ma túy cho S hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Đối với chủ thuê bao số điện thoại 0935.990.xxx là chị Nguyễn Thị Phương T3. Qua điều tra xác định, năm 2020, T3 làm rơi mất sim số trên nên chưa làm lại sim và không sử dụng sim số này nữa, T3 cũng không quen biết người đàn ông nào tên Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đà Nẵng không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Đối với 01 xe môtô hiệu Vespa màu cam, biển kiểm soát 43C1-67294, số khung RP8M82510HV005619, số máy: M82EM5018866. Qua xác minh, xe trên do anh Huỳnh Công N2 (sinh năm: 1992; trú tại: 2 Đ, P. T, Q, H, thành phố Đà Nẵng) đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 10/05/2017, anh N2 cho vợ mượn xe đi làm thì bị mất trộm, anh N2 đã đến Công an phường H, quận T, TP . trình báo. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Phạm Ưu T1 cùng vợ là Trần Thị Ý N1 (đã ly hôn năm 2022) mua lại chiếc xe trên vào năm 2018 tại một quán game bắn cá trên đường T, Tp Đà Nẵng (không rõ địa chỉ cụ thể), hiện T1 mượn xe trên của vợ để đi lại hàng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Từ S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T4 Sinh 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023.

  2. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
    • Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì niêm phong số 884/KL-KTHS ngày 17/10/2023, ký hiệu T1 của Phòng K1 Công an thành phố T5.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phạm Ưu T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, số Imei 353292070330010, gắn sim số 0913444409, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
    • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imei 868683045289398, gắn sim số 0779424424.

    (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).

  4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Văn Từ S, Nguyễn Phạm Ưu T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân q. Thanh Khê;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự CATP. Đà Nẵng;
  • - Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger