|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2023/HS-PT Ngày: 03/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Lê Ngọc Minh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 04/4/1970 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở: Tổ A, KP T, Phường G, TP T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Lái xe. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông Nguyễn X, sinh năm 1938 và bà Đào Thị X1 (chết), có vợ tên Nguyễn Thị Ánh T1, sinh năm 1978 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T2. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo: Nguyễn Thành L – sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 18/01/2023, bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành L cùng dự tiệc tất niên tại Công ty V ở Khu công nghiệp A, thuộc xã A, Tp T, tỉnh Phú Yên. Trong lúc ăn nhậu, bị cáo T và Nguyễn Thành L xảy ra mâu thuẫn. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Thành L ra về thì gặp bị cáo T đang đứng trước cổng khu công nghiệp, bị cáo T dùng 01 con dao dài 15,5 cm cầm trên tay phải đâm trúng bụng, tay trái và vai trái của Nguyễn Thành L gây thương tích, bản thân bị cáo T bị Nguyễn Thành L dùng tay đấm 01 cái trúng gò má phải. Sau đó, bị cáo T bỏ về nhà và ném con dao trong vườn ươm gân KCN A.
Tại bản Kết luận giám định pháp y số 47/2023/TgT ngày 06/3/2023 của Trung Tâm Pháp y tỉnh P đã kết luận Nguyễn Thành L bị thương tích với tỷ lệ 32%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/9/2023, người bị hại Nguyễn Thành L có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tính chất, động cơ và mục đích gây án của bị cáo cùng phần nhận định và tóm tắt tình tiết vụ án của bản án sơ thẩm, đề nghị tăng mức bồi thường dân sự về khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần và khoản thu nhập thực tế bị mất của bị hại.
Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Thành L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Nguyễn Thành L – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại cổng khu công nghiệp A, thuộc xã A, thành phố T, do có mâu thuẫn từ trước, bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi dùng 01 con dao dài 15,5 cm cầm trên tay phải đâm nhiều nhát trúng bụng, tay trái và vai trái của Nguyễn Thành L gây thương tích gây thương tích 32% (trong đó tỷ lệ thương tích tại vùng bụng là 2%).
[2] Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành L, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Đối với kháng cáo của bị hại L đề nghị xem xét lại tính chất, động cơ và mục đích gây án của bị cáo cùng phần nhận định và tóm tắt tình tiết vụ án của bản án sơ thẩm, xét thấy:
[2.1.1] Sau khi nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện lời khai của bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 10 giờ ngày 18/01/2023, bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành L cùng dự tiệc tất niên tại Công ty V ở Khu công nghiệp A, thuộc xã A, Tp T, tỉnh Phú Yên. Trong lúc ăn nhậu, giữa bị cáo T và L xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau liên quan đến việc trước đây bị cáo T nhờ Luân chuyển một số đồ nghề sửa xe của bị cáo T từ tỉnh Lâm Đồng về Tp ., tỉnh Khánh Hòa nhưng bị cáo T cho rằng Luân chuyển thiếu. Mâu thuẫn giữa bị cáo T và L được mọi người can ngăn. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi bị hại ra về thì gặp bị cáo T đang đứng trước cổng khu công nghiệp A, thuộc xã A, thành phố T, giữa bị cáo và bị hại xảy ra cải vã, xô xát với nhau. Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi dùng 01 con dao dài 15,5 cm cầm trên tay phải đâm nhiều nhát trúng bụng, tay trái và vai trái của Nguyễn Thành L gây thương tích gây thương tích 32% (trong đó tỷ lệ thương tích tại vùng bụng là 2%). Lúc này, sự việc xảy ra chỉ có bị cáo và bị hại, ngoài ra không có ai chứng kiến.
[2.1.2] Mặc dù, bị cáo T có hành vi dùng con dao sắc nhọn dài 15,5 cm (là hung khí nguy hiểm) cầm trên tay phải đâm trúng bụng L gây 01 vết thương vùng bụng cạnh trên rốn bên phải dài 06cm, có 01 mép thẳng và 01 mép gập góc, rách da sâu tới lá sau cơ bụng thẳng. Tuy nhiên, xét thương tích vùng bụng của Nguyễn Thành L tỷ lệ 02% và mâu thuẫn giữa bị cáo T và L đã xảy ra trước đó, ý thức chủ quan của bị cáo T chỉ dùng dao đánh, chém gây thương tích cho L chứ bị cáo T không có ý định tước đoạt tính mạng L, thực tế, sau khi gây thương tích và L bỏ chạy thì bị cáo T không tiếp tục truy đuổi, đánh chém L mà bị cáo bỏ đi về nhà và ném con dao trong vườn ươm gần KCN A.
[2.1.3] Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2.1.4] Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; xem xét nhân thân, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên Kiểm sát viên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[2.1.5] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành L đề nghị xem xét lại tính chất, động cơ và mục đích gây án của bị cáo cùng phần nhận định và tóm tắt tình tiết vụ án của bản án sơ thẩm là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2.2] Đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành L đề nghị tăng mức bồi thường dân sự về khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần và thu nhập thực tế của bị hại bị mất, Hội đồng xét xử thấy:
[2.2.1] Đối với tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại: Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự, bị hại bị thương tích với tỷ lệ 32%, do đó cấp sơ thẩm chấp nhận mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được tính là 20 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tương ứng với số tiền: 1.800.000 đồng/tháng x 20 tháng = 36.000.000 đồng là phù hợp.
[2.2.2] Đối với phần thu nhập thực tế bị mất của bị hại: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại cung cấp Giấy xác nhận của đại diện Công ty TNHH V, trước khi bị thương tích bị hại Nguyễn Thành L là tài xế lái xe tải tại Công ty với mức lương 3 tháng gần nhất là (Tháng 11/2022: 20.000.000đ; Tháng 12/2022: 20.000.000đ; Tháng 1/2023: 18.000.000đ). Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, do đó căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử chấp nhận phần nội dung kháng cáo này của bị hại: Xác định thu nhập bị mất của anh L như sau: (20.000.000đ + 20.000.000đ + 18.000.000đ) / 3 = 19.334.000đ x 07 tháng (Thời gian mất thu nhập được tính từ tháng 2/2023 đến tháng 8/2023) = 135.338.000đồng.
[2.2.3] Đối với chi phí chữa trị thương tích cho bị hại L là 51.984.000đ, bị cáo T đã bồi thường 46.000.000đ nên bị cáo T phải tiếp tục bồi thường cho bị hại L số tiền còn lại là 5.984.000đ.
[2.2.4] Từ những phân tích đánh giá từ mục [2.2.1] đến [2.2.3], Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm bồi thường dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thành L số tiền 223.322.000 đồng về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bị cáo T đã bồi thường trước số tiền 46.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 177.322.000 đồng.
[3] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Do xác định lại số tiền bồi thường đối với khoản thu nhập thực tế bị mất của bị hại nên Hội đồng xét xử xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của bị cáo theo quy định pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành L – Sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm bồi thường dân sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 3 Điều 134; các Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 20 tháng 3 năm 2023).
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thành L số tiền 223.322.000đ về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bị cáo T đã bồi thường trước số tiền 46.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 177.322.000đ (Một trăm bảy mươi bảy triệu, ba trăm hai mươi hai nghìn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Áp dụng 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 8.866.000đ (Tám triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Võ Nguyên Tùng |
Lê Ngọc Minh |
Nguyễn Việt Hùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 56/2023/HS-PT ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 56/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSPT NGUYỄN VĂN T - Đ 134
