Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lãnh Văn Việt.
  2. Ông Mạc Vương Long.

- Thư ký phiên toà: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1997. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Bùi Hồng H1, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1969. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vũ Thị H thì nội dung vụ án như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Hồng H1 có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2016, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống thời gian đầu thì hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến hay cãi nhau. Hai bên đã nhiều lần tìm cách giải quyết nhưng mâu thuẫn không được khắc phục. Đến không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Hồng H1.

- Về con chung: Chị và anh H1 có hai con chung là cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 16/07/2017 và cháu Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020. Sau ly hôn, chị đề nghị để hai con chung cho anh H1 chăm sóc và nuôi dưỡng, vì từ trước đến nay vẫn do bố mẹ anh H1 cùng anh H1 chăm sóc, hoàn cảnh gia đình chị thì khó khăn, bố chị thì mất mẹ chị thì không được minh mẫn. Do vậy để tạo điều kiện tốt nhất cho các con và tránh sự gián đoạn trong cuộc sống chị đề nghị Toà án để hai con chung cho anh H1 chăm sóc. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/3/2024 ông Bùi Văn L trình bày: Ông là bố ruột của anh Bùi Hồng H1 và là bố chồng của chị Vũ Thị H. Anh Bùi Hồng H1 và chị Vũ Thị H kết hôn với nhau vào năm 2016. Trước khi cưới có được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn thì anh H1 chị H có về chung sống cùng nhau ngay. Đến cuối năm 2016 thì gia đình ông cho chị H anh H1 ra ở riêng. Quá trình anh H1 chị H chung sống thì thỉnh thoảng có mâu thuẫn cãi nhau nhau nhưng chuyện vợ chồng mâu thuẫn không tránh khỏi. Quá trình chung sống anh H1 chị H có hai con chung là cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 16/07/2017 và cháu Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020. Hiện nay, anh H1 đang đi làm ăn xa tại Thanh Hóa còn cụ thể ở đâu thì ông không nắm được. Anh H1 thỉnh thoảng vẫn liên lạc và về gia đình nhưng anh H1 về một hai ngày rồi lại đi ngay. Khi đi anh H1 cũng không nói là đi đâu nên gia đình cũng không nắm rõ. Nay chị H làm đơn đề nghị ly hôn với anh H1 thì ông không có ý kiến gì, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình làm việc ông có nhận các giấy tờ của Tòa án và có thông báo lại cho anh H1 thì anh H1 có trình bày cũng nhất trí ly hôn với chị H. Về con chung anh H1 có nguyện vọng nuôi một con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng và cũng không có yêu cầu gì khác. Trong thời gian anh H1 đi vắng anh H1 nhất trí để ông nuôi dưỡng một con chung thay anh H1. Ông cũng nhất trí theo ý kiến của anh H1 ông sẽ chăm sóc một con chung của anh H1 chị H khi anh H1 đi vắng.

Tại biên bản xác minh ngày 04/3/2024 đối với ông Nguyễn Thành C, Trưởng thôn Đ, xã M cung cấp: Anh Bùi Hồng H1, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang là công dân của thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang chưa chuyển đi đâu. Hiện anh H1 đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về địa phương nhưng anh H1 về lại đi ngay, anh H1 đi làm ăn ở đâu thì chính quyền địa phương không nắm rõ được vì khi đi anh H1 không báo cáo cho chính quyền địa phương được biết. Quá trình anh H1 chị H chung sống thì anh chị có xảy ra mâu thuẫn hay cãi nhau nhưng cụ thể nguyên nhân như nào thì ban Q không nắm được vì anh H1 chị H không thông báo đến chính quyền thôn để hòa giải. Anh H1 chị H có hai con chung là cháu V và cháu N, hai cháu hiện đang ở cùng nhà anh H1 và được bố đẻ anh H1 chăm sóc ổn định. Trong thời gian anh H1 chị H đi vắng thì hai con chung do bố đẻ anh H1 là ông L chăm sóc và nuôi dưỡng và phát triển ổn định.

Tại biên bản xác minh ngày 15/3/2024 đối với ông Trương Văn T, Phó trưởng công an xã M cung cấp: Qua quá trình tra cứu sổ sách và dữ liệu anh Bùi Hồng H1, sinh năm 1994 hiện nay không còn dữ liệu tại xã M do quá trình rà soát anh H1 không đăng ký tạm trú tạm vắng cũng không chuyển khẩu đi nơi khác theo Luật cư trú năm 2020 Công an xã M đã tiến hành xóa khẩu theo quy định. Trước đó anh H1 vẫn có khẩu tại thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang và là công dân của xã, chịu sự quản lý của xã. Anh H1 đi đâu làm gì ở đâu thì địa phương không nắm được nhưng theo nắm bắt anh H1 thỉnh thoảng có về nhà bố mẹ đẻ ông Bùi Văn L về một thời gian ngắn rồi lại đi.

Tại Biên bản xác minh ngày 09/3/2024 đối với ông Hà Quốc T1, Cán bộ Phòng Q1, Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh cung cấp: Qua tra cứu thôn tin dữ liệu anh Bùi Hồng H1, sinh năm 1994 hiện chưa có thông tin cấp hộ chiếu, không có thông tin xuất nhập cảnh.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Hồng H1 vắng mặt không có lý do. Anh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H1 không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh H1 được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn L đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Hồng H1 vắng mặt lần thứ hai không lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án và công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đề nghị hội đồng xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H, cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Bùi Hồng H1.
  • - Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là cháu Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020, giao cho anh Bùi Hồng H1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 16/07/2017. Trong thời gian anh H1 vắng nhà thì cháu Bùi Trúc N do ông Bùi Văn L (là ông nội) chăm sóc, quản lý nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị H có đơn xin ly hôn với anh Bùi Hồng H1. Bị đơn anh Bùi Hồng H1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Hồng H1 vắng mặt, Tòa án đã triệu tập lần thứ hai nhưng anh Bùi Hồng H1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Anh H1 có nơi cứ trú tại thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang và là công dân của xã, chịu sự quản lý của xã. Tại biên bản xác minh ngày 09/3/2024 đối với Phòng Q1, Công an tỉnh B cung cấp thông tin hiện nay Bùi Hồng H1 chưa có thông tin xuất cảnh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 23 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh Bùi Hồng H1, chị Vũ Thị H, ông Bùi Văn L.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Hồng H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 29 tháng 9 năm 2016. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H anh H1 không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho tình carm vợ chồng không còn, anh H1 chị H đã sống ly thân với nhau một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh H1 là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.

[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Vũ Thị H và anh Bùi Hồng H1 đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vũ Thị H và anh Bùi Hồng H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Bùi Hồng H1.

[6] Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Hồng H1 có hai con chung là cháu Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020 và cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 16/7/2017. Hiện nay, cả hai con chung đều đang ở cùng với bố mẹ anh H1 và anh H1. Anh H1 thường xuyên không có mặt ở nhà việc nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Bùi Trúc N và cháu Bùi Khánh V hoàn toàn do ông Bùi Văn L chăm sóc, hiện nay cháu N, cháu V phát triển khoẻ mạnh bình thường, mọi mặt trong cuộc sống đều được đảm bảo, anh H1 có nguyện vọng nuôi dưỡng một con chung, ông L cũng nhất trí theo ý kiến của anh H1 là nuôi dưỡng một con chung của anh H1 chị H. Chị H có nguyện vọng để anh H1 nuôi dưỡng cả hai con chung. Tuy nhiên xét thấy, anh H1 không thường xuyên có mặt ở nhà, anh H1 cũng như bố đẻ anh H1 cũng chỉ nhất trí nuôi dưỡng một con chung. Để đảm bảo sự phát triển của các con chung cần giao một con chung cho chị Vũ Thị H và giao một con chung cho anh Bùi Hồng H1 chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp. Do vậy, cần giao cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 16/7/2017 cho anh H1 nuôi dưỡng chăm sóc, giao cháu Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020 cho chị Vũ Thị H nuôi dưỡng chăm sóc khi chị H anh H1 ly hôn. Tuy nhiên, hiện nay anh H1 thường xuyên vắng nhà trong thời gian anh H1 vắng nhà thì cần giao cháu V cho ông nội của cháu là ông Bùi Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết ly hôn, con chung giữa chị Vũ Thị H và anh Bùi Hồng H1 phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Bùi Hồng H1.
  2. Về con chung: Giao con chung là Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao con chung là Bùi Khánh V, sinh ngày 16/07/2017 cho anh Bùi Hồng H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Trong thời gian anh H1 vắng nhà giao cháu Bùi Trúc N, sinh ngày 24/10/2020 cho ông Bùi Văn L (là ông nội cháu N) chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở thực hiện quyền này.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005996 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Mỹ An, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (Số 47/2016);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: v
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger