Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03 - 5 - 2024

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

tranh chấp về cấp dưỡng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thiện

2. Ông Nguyễn Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 513/2023/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2023; về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hoài P, sinh năm 1979; Nơi cư trú: đường N, tổ G, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Đinh Cao Nhật T, sinh năm 1979; Nơi cư trú: đường N, tổ G, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Chị Hoàng Thị Hoài P, anh Đinh Cao Nhật T tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị P, anh T chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T thiếu quan tâm gia đình, vợ con, không chăm lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu, kiếm chuyện gây gỗ chưởi bới chị P vô cớ; ngoài ra anh T còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị P và hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng anh T vẫn không thay đổi được. Mặc dù chị P, anh T vẫn sống chung với nhau nhưng không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị P không còn tình cảm với anh T và không mong muốn tiếp tục chung sống với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Trong quá trình chung sống chị P, anh T có 03 con chung là Đinh Hoàng Mẫn M, sinh năm 2005; Đinh Hoàng Mỹ M1, sinh ngày 05/4/2007; Đinh Thiên L, sinh ngày 25/3/2019. Tại đơn khởi kiện chị P yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi cháu M1, cháu L; quá trình giải quyết vụ án chị P rút lại yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con đối với cháu M1, chỉ yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con đối với cháu L. Chị P có nguyện vọng nuôi cháu L và yêu cầu anh Trung cấp dưỡng tiền nuôi cháu L 2.000.000 đồng/tháng; không có yêu cầu giải quyết đối với cháu M. Trước đây anh T làm nghề đồ gỗ, tuy nhiên gần đây anh T đi làm công tại trang trại heo, thu nhập chị P không rõ. Bản thân chị P làm thợ may thu nhập bình quân từ 5.000.000 đồng-6.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra không có thu nhập gì khác. Về tài sản chung và nợ chung chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đinh Cao Nhật T:

Sau khi thụ lý vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều

không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại biên bản xác minh ngày 05/4/2024 thể hiện:

Chị Hoàng Thị Hoài P, anh Đinh Cao Nhật T là công dân hiện sinh sống tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Hoàng Thị Hoài P được ly hôn với anh Đinh Cao Nhật T; giao con chung Đinh Thiên L, sinh ngày 25/3/2019 cho chị P nuôi dưỡng và buộc anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Đình chỉ đối với yêu cầu giải quyết quyền nuôi con Đinh Hoàng Mỹ M1, sinh ngày 05/4/2007.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn anh Đinh Cao Nhật T hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1, 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Hoàng Thị Hoài P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh Đinh Cao Nhật T nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” được quy định tại khoản 1, 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Đinh Cao Nhật T không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài P nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Chị Hoàng Thị Hoài P, anh Đinh Cao Nhật T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 06/6/2005, số vào sổ 74/05, quyển số 01 tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là thị trấn Đ), huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị P, anh T chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Chị P cũng như hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng vẫn không có kết quả. Mặc dù hiện nay chị P, anh T vẫn còn sống chung nhưng chị P thừa nhận các bên không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau và chị P hiện cũng không còn tình cảm gì với anh T. Bản thân anh T, sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ anh T cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị P. Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị P được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Tại đơn khởi kiện chị P có nguyện vọng được quyền nuôi con Đinh Hoàng Mỹ M1, sinh ngày 05/4/2007; Đinh Thiên L, sinh ngày 25/3/2019. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị P rút yêu cầu Toà án giải quyết quyền

nuôi con Đinh Hoàng Mỹ M1. Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi kiện đối với quyền nuôi con Đinh Hoàng Mỹ M1 của chị P là tự nguyện nên cần đình chỉ là phù hợp.

Chị P giữ nguyên yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con Đinh Thiên L, sinh ngày 25/3/2019, trong khi anh T không có ý kiến gì. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, chị P có công việc, thu nhập ổn định, ngoài ra cháu L đang trong độ tuổi phát triển thể chất và tâm, sinh lý. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên về mọi mặt thì cần giao con cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

[6] Chị P yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Nhận thấy, yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con của chị P là có căn cứ, bởi lẽ chị P là người trực tiếp nuôi con, nên anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, tuy nhiên mức cấp dưỡng 2000.000 đồng/tháng mà chị P đưa ra là cao so với mức sống tại địa phương, cũng như nhu cầu hiện tại của con, nên cần điều chỉnh mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt trong trường hợp quy định tại Điều 118 luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, chị P có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung.

[7] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

[8] Chị P phải chịu án phí ly hôn, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng.

[9] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1, 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84; khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 2 Điều 2, Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;

Điểm a khoản 5, điểm a, đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;

Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Hoài P được ly hôn với anh Đinh Cao Nhật T.

Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 06/6/2005, số vào sổ 74/05, quyển số 01 tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là thị trấn Đ), huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

2.1 Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài P về việc yêu cầu Toà án giải quyết quyền nuôi con Đinh Hoàng Mỹ M1, sinh ngày 05/4/2007.

2.2 Giao cho chị Hoàng Thị Hoài P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Đinh Thiên L, sinh ngày 25/3/2019.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

3. Về cấp dưỡng: Anh Đinh Cao Nhật T phải cấp dưỡng tiền nuôi con Đinh Thiên L, sinh ngày 25/3/2019 cho chị Hoàng Thị Hoài P mỗi tháng là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).

Chị P có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt khi phát sinh trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Hoài P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0017764, ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị P đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Đinh Cao Nhật T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng tiền nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - UBND TT Đức Tài, huyện Đức Linh;
  • - C.C Thi hành án DS.h. Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Hoài Phương- Đinh Cao Nhật Trung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger