|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/DS-PT
Ngày 25 - 4 - 2024
V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường Du.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân.
Ông Mai Đình Thuận
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Dung - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Thanh T
- Kiểm sát viên.Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 146/2023/TLPT-DS ngày 14/12/2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐ-PT ngày 08/02/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐ-PT ngày 06/3/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K – Sinh năm 1952
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Bị đơn : Ông Trần Đình C – Sinh năm 1977.
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- - Bà Đàm Thị H - Sinh năm 1976
- - Ông Trần Đình S - Sinh năm 1979, bà Nguyễn Thị H1 – Sinh năm 1981.
- - Ông Trần Xuân H2 - Sinh năm 1991
- - Bà Trần Thị T1 – Sinh năm 1981
- - Ông Trần Đình H3 – Sinh năm 1944.
- - Ông Trần Đình T2 – Sinh năm 1948.
- - Bà Trần Thị G – Sinh năm 1955
- - Bà Trần Thị K1 – Sinh năm 1957
- - Bà Trần Thị C1 – Sinh năm 1960
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Cùng địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
Địa chỉ: Phố E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
Địa chỉ: Phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn vắng mặt
Địa chỉ: SN A Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn vắng mặt
Địa chỉ: Phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn vắng mặt
Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn vắng mặt
* Do có kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đàm Thị H, ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Theo bà Nguyễn Thị K (Nguyên đơn) trình bày:
Bà và ông Trần Đình T3 kết hôn với nhau năm 1972 và sinh hạ được 04 người con, gồm: Trần Đình C – Sinh năm 1977; Trần Đình S - Sinh năm 1979; Trần Thị T1 – Sinh năm 1981 và Trần Xuân H2 – Sinh năm 1991. Quá trình vợ chồng chung sống có tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại phố C, phường Đ, thành phố T. Diện tích đất 415m2 (trong đó có 200 m2 đất ở và 215 m2 đất vườn lâu dài), tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dung đất số E0278374 do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/10/1994 mang tên ông Trần Đình T3. Ngày 30/5/2000, ông Trần Đình T3 chết không để lại di chúc về việc định đoạt ½ di sản là quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai. Đầu năm 2016, anh Trần Đình C ngang nhiên xây dựng nhà lấn chiếm lên phần đất của bà và của những người con khác trong gia đình. Ngoài ra anh C còn nhiều lần chửi bới, xúc phạm, đuổi đánh bà. Bà đã đề nghị UBND phường Đ hòa giải việc phân chia di sản thừa kế nhưng các bên không thỏa thuận được.
Nay bà khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia di sản thừa kế của ông Trần Đình T3 để lại chia các hàng thừa kế. Cụ thể phần tài sản của bà là ½ giá trị tài sản, ½ giá trị tài sản của ông Trần Đình T3 chia cho 05 phần, bà được 01 phần và mỗi người con mỗi người một phần. Ngoài ra bà đề nghị Tòa án buộc anh Trần Đình C phải tháo dỡ công trình đã xây dựng trên phần đất của bà và của các người con khác.
- Biên bản ghi lời khai cũng như ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Văn C2 trình bày:
Bố anh là Trần Đình T3, mẹ anh là Nguyễn Thị K, bố mẹ anh sinh được 04 người con, gồm: anh Trần Đình C, anh Trần Đình S, chị Trần Thị T1 và anh Trần Xuân H2; các anh chị hiện nay đã có gia đình riêng. Trong quá trình chung sống, bố mẹ anh đã tạo dựng được khối tài sản là nhà đất tại phố C, phường Đ, thành phố T, hiện nay Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên bố anh là ông Trần Đình T3. Năm 1998, anh xây dựng gia đình nên bố mẹ cho anh làm nhà trên một phần đất. Năm 2003, anh làm móng, đến năm 2007 anh xây nhà 1 tầng và 1 chòi, đến năm 2019 anh làm tiếp tầng 2 và ở kiên cố cho đến nay. Tổng diện tích anh đang sử dụng hiện nay khoảng 130m².
Nay mẹ anh là bà Nguyễn Thị K khởi kiện tại Tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế, quan điểm của anh C là bố mẹ cho anh đất khi anh xây dựng gia đình và đã làm nhà kiên cố, sinh sống ổn định trên mảnh đất này từ trước đến nay nên anh đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu mẹ anh kiên quyết đòi lại đất và buộc anh tháo dỡ công trình anh đồng ý, nhưng mẹ anh phải có trách nhiệm bồi thường phần công trình nổi cho anh.
- Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đàm Thị H trình bày:
Chị là vợ anh Trần Đình C, chị và anh C kết hôn vào năm 1998, do đó chị là con con dâu ông T3, bà K. Sau khi kết hôn với anh C thì ở chung với ông bà được 1 tháng, sau đó ông bà cho vợ chồng chị ở riêng xuống 3 gian nhà bếp. Năm 2000 thì bố chồng chị chết và không để lại di chúc, nhưng sau khi kết hôn với anh C năm 1998 đến năm 1999 thì ông bà cho vợ chồng chị một ít đất để làm nhà ở riêng. Năm 2003, vợ chồng chị làm móng nhà, đến năm 2007 thì xây nhà bằng tầng 1, đến năm 2018 thì vợ chồng chị làm tiếp tầng 2 và ăn ở sinh sống kiên cố từ đó cho đến nay. Nhà đất vợ chồng chị đang ở hiện nay là nhà do vợ chồng chị làm, nhưng đất là của bố mẹ chồng chị nên vợ chồng chị cũng chưa có giấy tờ chủ quyền về đất.
Nay bà Nguyễn Thị K khởi kiện tại Tòa án để chia di sản thừa kế, chị là con dâu nên cũng đề nghị Tòa án xem xét vì vợ chồng chị đã xây dựng nhà cửa và ăn ở ổn định từ đó cho đến nay, nên đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
- Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T1 trình bày:
Bố chị là Trần Đình T3, mẹ chị là Nguyễn Thị K, bố mẹ chị sinh được 04 người con, gồm: anh Trần Đình C, anh Trần Đình S, chị Trần Thị T1 và anh Trần Xuân H2. Trước đây, bố mẹ chị tạo dựng được khối tài sản nhà đất tại phố C, phường Đ, thành phố T. Năm 2000, bố chị chết không để lại di chúc. Hiện nay, nhà đất trên có anh C, anh S, em H2 và mẹ chị đang sinh sống trên đất này. Trong cuộc sống giữa mẹ chị và các anh em chị có xảy ra mâu thuẫn, UBND phường Đ đã hòa giải nhưng không có kết quả.
Nay mẹ chị là bà Nguyễn Thị K khởi kiện anh Trần Đình C là người đang ở trên mảnh đất của mẹ chị. Chị là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án chia gi sản thừa kế phần, tài sản của bố chị để lại là ½ diện tích đất, còn cụ thể diện tích bao nhiêu thì chị không biết được nên chị chỉ đề nghị Tòa án chia gi sản thừa kế của bố chị để lại theo quy định của pháp luật và chị muốn nhận hiện vật là đất.
- Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Đình S trình bày:
Bố anh là Trần Đình T3, mẹ anh là Nguyễn Thị K, bố mẹ anh chị sinh được 04 người con, gồm: anh Trần Đình C, anh Trần Đình S, chị Trần Thị T1 và anh Trần Xuân H2. Bố anh đã chết năm 2000. Trước đây, bố mẹ anh tạo lập một khối tài sản ruộng đất tại phố C, phường Đ, thành phố T. Theo Giấy chứng nhận QSDĐ E0278374 do UBND huyện Đ cấp ngày 20/10/1994. Sau khi bố anh mất không để lại di chúc. Năm 2002, anh lập gia đình, sau khi lập gia đình thì anh ở chung với mẹ. Năm 2004, anh làm nhà 2 tầng và ra ở riêng. Hiện nay di sản bố anh để lại thì có anh S, anh C, em H2 và mẹ anh đang ở trên mảnh đất này.
Nay mẹ anh đòi khởi kiện chia di sản thời kế tại Tòa án, ý kiến của anh là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu mẹ anh kiên quyết đòi lại đất và buộc anh tháo dỡ công trình anh đồng ý, nhưng mẹ anh phải có trách nhiệm bồi thường phần công trình nổi cho anh.
- Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Xuân H2 trình bày:
Gia đình anh gồm bố là ông Trần Đình T3, mẹ là bà Nguyễn Thị K và 04 anh chị em gồm: anh Trần Đình C, anh Trần Đình S, chị Trần Thị T1 và anh Trần Xuân H2. Trước đây bố mẹ anh có tạo dựng được một mảnh đất tại phố C, phường Đ, thành phố T. Vào năm 2000, bố anh đột ngột qua đời và không để lại di chúc. Hiện nay trên mảnh đất của nhà anh có bà K, anh C, anh S và anh sinh sống. Hiện tại mẹ anh đang sống tại nhà cũ từ ngày xưa bố và mẹ xây dựng nên, hai anh C và S đã xây nhà riêng, còn anh đã lấy vợ sinh con và đi lập nghiệp ở địa phương khác nên thi thoảng về vẫn ở cùng nhà với bà K. Hiện tại trong quá trình sinh sống chung giữa mẹ và anh C có phát sinh mâu thuẫn, sự việc đã hòa giả tại nhà và UBND phường Đ nhưng không có kết quả.
Nay mẹ anh khởi kiện chia di sản thời kế tại Tòa án, ý kiến của anh là đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng pháp luật. Về phần gia đình, anh là người chưa xây dựng gì trên đất của bố mẹ. Nay do bố đã mất, hiện tại chỉ còn mình mẹ vậy nên mẹ chia cho anh bao nhiêu thì anh xin nghe theo, ngoài ra không có thắc mắc, đòi hỏi gì thêm.
- Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị G trình bày:
Bố mẹ bà sinh được 06 người con, gồm: Ông Trần Đình H3 – Sinh năm 1942, ông Trần Đình T2 – Sinh năm 1948, ông Trần Đình T3 – Sinh năm 1949, bà Trần Thị G– Sinh năm 1955, bà Trần Thị K1 – Sinh năm 1958, bà Trần Thị C1 – Sinh năm 1966. Ông Trần Đình T3 là anh trai ruột của bà, bà Nguyễn Thị K là chị dâu bà. Bố bà là ông Trần Đình T4 đã chết năm 1997, mẹ là bà Lê Thị L đã chết năm 2004, ông T3 anh trai bà đã chết năm 2000. Nguồn gốc đất là trước đây ông T3 ở gần nhà bố mẹ, nhà nước có chủ trương là 3 hộ trong một gia đình thì được làm đơn yêu cầu cấp đất. Do đó ông H3 đã làm đơn đến UBND xã và huyện yêu cầu được cấp đất, nhà nước đã cấp đất cho ông H3, nhưng do bố mẹ bà muốn ông H3 ở gần nên đã đổi đất cho ông T3. Hiện nay đất này do bà K và các cháu đang ở. Vì vậy nguồn gốc đất là do nhà nước cấp chứ không phải bố mẹ bà để lại.
Nay bà K khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tại Tòa án, quan điểm của bà là khi ông T3 còn sống thì ông T3 và bà K đã thống nhất cho hai anh C và S nên hai anh đã làm nhà kiên cố trên đất. Ông bà đã cho các con thì không nên đòi lại, bà K và các con nên tìm ra phương án giải quyết cho hài hòa. Về tài sản của ông T3 để lại thì mẹ bà là hàng thừa kế thứ nhất vì mẹ bà chết sau ông T3 nên được hưởng một phần của ông T3. Nhưng nay mẹ bà đã chết thì các con đang còn sống sẽ được hưởng phần của của mẹ bà, do đó bà cũng được hưởng một phần. Và phần của bà thì bà cho anh C.
- Theo biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C1 trình bày:
Bố mẹ bà sinh được 06 người con, gồm: Ông Trần Đình H3, ông Trần Đình T2, ông Trần Đình T3, bà Trần Thị G, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1. Ông Trần Đình T3 là anh trai ruột của bà, bà Nguyễn Thị K là chị dâu bà. Bố bà là ông Trần Đình T4 đã chết năm 1997, mẹ là bà Lê Thị L đã chết năm 2004, ông T3 anh trai bà đã chết năm 2000. Nguồn gốc đất của ông T3 và bà K tại phố C, phường Đ, thành phố T mà hiện nay bà K đang quản lý là do nhà nước cấp. Trước đây ông H3 làm đơn xin nhà nước cấp cho ông H3, nhưng do ông T3 có một mảnh đất gần nhà bố mẹ, nên bố mẹ bà bắt ông H3 là con cả phải ở gần đất tổ tiên. Vì vậy ông H3 và ông T3 thỏa thuận đổi đất cho nhau, do vậy UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông T3 và ở ổn định cho đến nay.
Nay bà K khởi kiện chia thừa kế tại Tòa án, quan điểm của bà là Tòa án căn cứ vào pháp luật giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho các bên. Nếu Tòa án hòa giải được cho hai bên thỏa thuận với nhau thì càng tốt. Đối với di sản ông T3 để lại bà từ chối không nhận và đề nghị Tòa án chia cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.
- Theo biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị K1 trình bày:
Bố mẹ bà sinh được 06 người con, gồm: Ông Trần Đình H3, ông Trần Đình T2, ông Trần Đình T3, bà Trần Thị G, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1. Ông Trần Đình T3 là anh trai ruột của bà, bà Nguyễn Thị K là chị dâu bà. Bố bà là ông Trần Đình T4 đã chết năm 1997, mẹ là bà Lê Thị L đã chết năm 2004, ông T3 anh trai bà đã chết năm 2000. Nguồn gốc đất của ông T3 tại phố C, phường Đ, thành phố T mà hiện nay bà K và hai anh C và S đang ở là do trước đây ông H3 làm đơn xin UBND xã Đ cấp đất, và UBND xã đã cấp đất cho ông H3, ông H3 là người đi bốc thăm đất. Nhưng sau đó ông H3 đã đổi cho ông T3, vì lúc này ông T3 có một đám đất gần nhà bố mẹ nên ông bà bắt ông H3 là con cả phải ở gần bố mẹ. Vì vậy ông H3 và ông T3 mới thống nhất đổi đất cho nhau, nên UBND huyện Đ đổi đất cho ông T3 tại mảnh đất bây giờ.
Nay bà K khởi kiện chia thừa kế đất đai tại Tòa án, quan điểm của bà là Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên. Còn đối với bà thì bà không có yêu cầu gì về phần tài sản của ông T3 để lại mà đề nghị Tòa án chia cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.
- Theo biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình H3 trình bày:
Bố mẹ ông sinh được 06 người con, gồm: Ông Trần Đình H3, ông Trần Đình T2, ông Trần Đình T3, bà Trần Thị G, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1. Ông Trần Đình T3 – Sinh năm 1949 là em trai ruột của ông. Bố ông là ông Trần Đình T4 đã chết năm 1997, mẹ là bà Lê Thị L đã chết năm 2004, ông T3 em trai ông đã chết năm 2000. Nguồn gốc đất tại thửa 1140, tờ bản đồ 03 có địa chỉ tại phố C, phường Đ, thành phố T do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp cho ông Trần Đình T3 vào ngày 20/10/1994, trước đây ông làm đơn lên UBND xã Đ để xin cấp đất cho ông, nhưng do bố ông là Trần Đình T4 muốn ông ở gần với ông bà vì ông là con trai cả nên ông mới đổi cho ông T3. Sau khi đổi cho ông T3 thì UBND huyện cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho gia đình ông T3, còn đất của ông T3 thì sát nhập vào đất do huyện Đ cấp cho ông.
Nay bà K khởi kiện chia thừa kế là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại phố C, phường Đ, thành phố T, quan điểm của ông là Tòa án giải quyết theo pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên. Còn ông không có yêu cầu gì và cũng không nhận phần di sản nếu được hưởng mà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình T2 trình bày:
Bố mẹ ông sinh được 06 người con, gồm: Ông Trần Đình H3, ông Trần Đình T2, ông Trần Đình T3, bà Trần Thị G, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1. Ông Trần Đình T3 là em trai ruột của ông. Hiện nay ông T3 đã chết. Nguồn gốc đất tại thửa 1140 tờ bản đồ 03, địa chỉ tại phố C, phường Đ, thành phố T do UBND huyện Đ cấp cho ông Trần Đình T3 vào ngày 20/10/1994 là trước đây ông H3 làm đơn xin UBND phường Đ cấp cho ông H3, nhưng sau đó ông H3 muốn ở gần ông bà và liền mảnh đất với ông bà nên đổi cho ông T3. Vì vậy mảnh đất nói trên là hiện nay thuộc tài sản của ông T3 và bà K.
Nay bà K khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, quan điểm của ông là Tòa án giải quyết chia thừa kế phần tài sản ông T3 để lại phải chia cho mẹ ông là bà Lê Thị L hàng thừa kế thứ nhất vì bà L chết sau ông T3. Ông T3 chết năm 2000, mẹ ông chết năm 2004. Mẹ ông đã chết nên các con của mẹ còn sống sẽ được hưởng phần của mẹ ông để lại. Nếu ông được hưởng bao nhiêu thì ông xin nhường lại cho anh Trần Đình C. Nay bà K khởi kiện, quan điểm của ông giải quyết sao cho hợp lý vì ông T3 và bà K đã cho con cái xây nhà cố định thì không nên đòi lại và phá nhà, còn con cái có điều kiện thì nên phụ đưa cho mẹ một khoản tiền để an dưỡng tuổi già. Còn đưa bao nhiêu thì hoàn toàn do các bên thỏa thuận.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 21/10/2022 tài sản được xác định như sau:
1. Về thẩm định: Phần diện tích đất đang tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại phố C, phường Đ, thành phố T, tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dung đất số E0278374 do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/10/1994 mang tên ông Trần Đình T3. Về tài sản trên đất gồm có:
- Nhà bà Nguyễn Thị K đang sử dụng:
- + 01 nhà mái bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, diện tích xây dựng 45,7 m2, xây dựng năm 1993.
- + Nhà ở mái lợp tôn, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, diện tích xây dựng 44,2 m2, xây dựng năm 2006.
- Nhà gia đình anh Trần Đình C đang quản lý sử dụng: 01 nhà ở mái lợp tôn, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, diện tích xây dựng 61,2m2; 01 nhà ở khung bê tông cốt thép, tường xây gạch chỉ 220 kết hợp tường 110 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh; diện tích xây dựng sàn tầng 1 là 80,5 m2; diện tích xây dựng sàn tầng 2 là 55,9 m2; phần mái lợp tôn tầng 2 diện tích 29,1 m2.
- Nhà anh Trần Đình S đang quản lý sử dụng: Nhà ở hai tầng khung bê tông cốt thép tường xây gạch chỉ 220 kết hợp tường 110 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh; tổng diện tích xây dựng 105,6 m²; nhà khung bê tông cốt thép tường xây gạch chỉ 220 kết hợp tường 110 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh diện tích mỗi sàn là 15,5m²; nhà 01 tầng khung bê tông cốt thép tường xây gạch chỉ 220 kết hợp tường 110 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh sàn là 15,5m², tầng 215,5m² lợp tôn; bán bình lợp tôn diện tích 32,6 m².
- Diện tích đất hiện trạng: 511,3m2 (trong đó có 200 m2 đất ở và 311,3 m2 đất vườn lâu dài), có các phía:
Phía Đông: giáp nhà bà Công
Phía Tây: giáp ngõ đi
Phía Nam: giáp đường Đ
Phía Bắc: giáp nhà ông T6
Các hộ gia đình giáp ranh với gia đình bà Nguyễn Thị K đang sử dụng không có tranh chấp.
2. Về giá trị là đất và tài sản gắn liền với đất:
- Giá trị đất tại nơi tranh chấp theo giá thị trường là 10.000.000đ/m² ( Đất ở); đất vườn là 1.250.000đ/m².
Đất ở: 200,0m² x 10.000.000đ = 2.000.000.000 đồng.
Đất vườn: 311,3 m² x 1.250.000₫ = 389.125.000₫
Tổng giá trị về đất: 2.389.125.000đ.
- Giá trị tài sản gắn liền với đất:
- + Nhà ở của anh Trần Đình C, chị Đàm Thị H có tổng trị giá: 572.643.000₫
- + Nhà ở của bà Nguyễn Thị K: Nhà ở mái lợp tôn: 44,2m² x 3.050.000₫ x 38% = 51.227.000đ; nhà ở mái bê tông cốt thép: 45,7m² x 4. 138.000₫ x 30% = 56.731.000₫.
- + Nhà ở, công trình trên đất của anh Trần Đình S, chị Nguyễn Thị H1 có tổng trị giá: 289.313.092₫
* Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228; Điều 271; 273 BLTTDS; Các Điều 649; 650; 651; 652; 658; 660 BLDS năm 2015. điểm a khoản 7 Điều 27, tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Mục A Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 về quy định mức án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K về yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Trần Đình T3 theo pháp luật.
- Xác định phần tài sản của bà Nguyễn Thị K gồm 255,65 m² đất (trong đó có 100 m² đất ở và 155,65m² đất vườn) tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010);
Tài sản trên đất: 01 nhà ở mái lợp tôn, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, diện tích xây dựng 44,2 m2, xây dựng năm 2006; Trị giá ½ ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, diện tích xây dựng 45,7 m2, xây dựng năm 1993 số tiền là: 28.365.500₫
- Xác định di sản thừa kế của ông Trần Đình T3 là: Diện tích đất là 255,65 m² (trong đó có 100 m2 đất ở, 155,65m² đất vườn) tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010) trị giá: 1.194.562.500₫.
Tài sản trên đất Trị giá ½ ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, diện tích xây dựng 45,7 m2, xây dựng năm 1993 số tiền là: 28.365.500đ.
- Phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật:
- + Chia cho bà Nguyễn Thị K 14,1 m² tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010) trị giá 17.625.000đ. Giao Bà Nguyễn Thị K quản lý sử dụng 01 ngôi nhà mái bằng xây dựng năm 1993, bà K có trách nhiệm chênh lệch lại phần giá trị tài sản trên đất cho chị Trần Thị T1 số tiền 4.862.000đ; chênh lệch lại cho anh Trần Xuân H2 4.862.000đ; chênh lệch cho anh Trần Đình S 6.212.000đ và được nhận từ anh C 2.793.000đ.
- Công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị K nhường 30,4 m²(trong đó có 20,76 m² đất ở và 9,64 m² đất vườn) là kỷ phần thừa kế được hưởng cho anh Trần Đình S.
Phần di sản thừa kế và tài sản của bà Nguyễn Thị K được hưởng có tổng diện tích là 269,8 m² đất (trong đó có 100 m² đất ở và 169,8 m² đất vườn) tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010).
Phần diện tích đất của bà K có các phía:
Phía Đông giáp nhà bà C3, nhà anh S. Phía tây: giáp ngõ đi. Phía bắc: giáp đất ông T6.Phía nam: giáp đất anh C, anh S và đường Đ.
(có sơ đồ kèm theo)
Giao bà Nguyễn Thị K quản lý sử dụng: 01 nhà mái bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 1993; 01 nhà ở mái lợp tôn, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 2006.
- + Chia cho anh Trần Đình C 117,1 m² đất (trong đó đất ở là 42,48 m², 72,64 m² đất vườn) tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010). Anh C có trách nhiệm chênh lệch lại cho chị Trần Thị T1 số tiền 191.116.000đ; Chênh lệch lại cho bà Nguyễn Thị K số tiền 2.793.000đ.
Diện tích đất của anh C có các phía:
Phía Đông: giáp đất bà K. Phía tây: giáp đường ngõ.
Phía bắc: giáp đất bà K. Phía nam: giáp đường Đ.
(có sơ đồ kèm theo)
Giao anh Trần Đình C, chị Đàm Thị H quản lý sử dụng các công trình đã xây dựng trên diện tích 117,1 m² đất tại địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- + Chia cho anh Trần Đình S 124,4 m² đất (trong đó có 57,52 m² đất ở và 66,88 m² đất vườn), tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010). Anh S có trách nhiệm chênh lệch lại cho anh Trần Xuân H2 số tiền 191.116.000đ.
Giao anh Trần Đình S, chị Nguyễn Thị H1 tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên đất mà anh đã xây dựng trên 124,4 m² đất.
Phần diện tích đất của anh S có các phía:
Phía Đông: giáp đất bà C3. Phía tây: giáp đất bà K.
Phía bắc: giáp đất bà K. Phía nam: giáp đường Đ.
(có sơ đồ kèm theo)
- Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Đình T2, bà Trần Thị G nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho anh Trần Đình C.
- Buộc anh Trần Đình C, chị Đàm Thị H phải tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích 24 m² đất, để trả lại 24,6 m² đất cho bà Nguyễn Thị K (có sơ đồ kèm theo).
- Về chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định: Chấp nhận sự tự nguyện của các bên đương sự không yêu cầu xem xét.
Về án phí:
- - Bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi và có đơn miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14.
- - Anh Trần Đình C chịu 16.200.000đ án phí dân sự có giá ngạch.
- - Anh Trần Đình S chịu 12.709.000đ án phí dân sự có giá ngạch.
- - Anh Trần Xuân H2 chịu 9.798.000đ án phí dân sự có giá ngạch.
- - Chị Trần Thị T1 chịu 9.798.000đ án phí dân sự có giá ngạch.
- Án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm bà Đàm Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo như sau: không đồng tình với Quyết định của bản án sơ thẩm buộc gia đình bà tháo dỡ công trình phụ xây dựng trên phần diện tích 24,6m² để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị K.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bà Đàm Thị H trình bày: Bà kháng cáo không đồng ý tháo dỡ công trình phụ để trả đất cho bà K: Vì sau khi được bố mẹ chồng là ông T3, bà K cho đất vợ chồng bà đã xây móng từ năm 2003, đến năm 2007 thì xây tầng 1 và công trình phụ, đến năm 2019 thì vợ chồng bà xây tầng 2 và công trình phụ tầng 2. Khi xây toàn bộ công trình thì bà K2 không có ý kiến phản đối gì, nên bà H có ý kiến giữ lại công trình phụ và trả bằng tiền cho bà K phần diện tích đất 24,6m² là 50.000.000 đồng.
Bà H rút toàn bộ nội dung trong đơn kháng cáo liên quan đến ý kiến của ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1.
Ông Trần Đình C không có kháng cáo, nhưng cũng đồng ý với toàn bộ ý kiến kháng cáo, và trình bày của bà H nêu trên, đồng ý giữ lại công trình phụ và trả bằng tiền cho bà K phần diện tích đất 24,6m² là 50.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị K không đồng ý với kháng cáo của bà H, không đồng ý nhận tiền và đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, buộc gia đình Chiến, H tháo dỡ công trình phụ xây dựng trên phần diện tích 24,6m² để trả lại đất cho bà.
Ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 có đơn xin xét xử vắng mặt, và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị được nhận phần thừa kế của bà L và cho lại vợ chồng ông C.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:
+ Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Thư ký đều tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Xét kháng cáo của đương sự: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/4/2024 thấy rằng: Công trình phụ xây trên phần diện tích đất 24,6m² do vợ chông ông C, bà H xây dựng, quá trình xây liền kết cấu với toàn bộ căn nhà, khi ông C, bà H xây thì bà K không có ý kiến phản đối, do vậy việc tháo dỡ công trình phụ sẽ ảnh hưởng đến kết cầu toàn bộ công trình nhà của ông C, bà H.
Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Sửa bản án sơ thẩm chấp nhận kháng cáo của bà H, không buộc gia đình C4, H tháo dỡ công trình phụ xây dựng trên phần diện tích 24,6m² để trả lại đất cho bà K. Xác định diện tích đất này là đất trồng cây lâu năm để điều chính lại diên tích đất được chia thừa kế của bà K, sẽ không ảnh hưởng đến diện tích đất ở của bà K. Théo giá thì trường cấp sơ thẩm xác định thì : 24,6m x 1.250.000 đ = 30.750.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông C4 bà H trả cho bà K phần diên tích đất trên bằng tiền là 50 triệu đồng.
Tại cấp sơ thẩm Ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 đã từ chối nhận thừa kế của bà L, và đề nghị nhập phần thừa kế vào để chia cho các thừa kế khác có trước khi khi chia thừa kế theo đúng quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định.
Ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 có đơn xin xét xử vắng mặt, và giữ nguyên nội dung kháng cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt họ.
Về thời hiệu khởi kiện: Ông Trần Đình T3 chết ngày 30/5/2000 nên thời điểm mở thừa kế là ngày 30 tháng 5 năm 2000. Ngày 20 tháng 3 năm 2022 bà Nguyễn Thị K khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trần Đình T3 để lại. Kể từ thời điểm ông Trần Đình T3 chết đến ngày bà Nguyễn Thị K khởi kiện chia di sản thừa kế dưới 30 năm, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS thì thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo, các đương sự không có thỏa thuận được với nhau về các nội dung tranh chấp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo:
2.1. Xác định di sản thừa kế: Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị K xác định trong thời kỳ hôn nhân bà và ông Trần Đình T3 tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại phố C, phường Đ, thành phố T. Diện tích 415m2 (trong đó có 200 m2 đất ở và 215 m2 đất vườn lâu dài), tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dung đất số E0278374 do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/10/1994 mang tên ông Trần Đình T3. Ngày 30/5/2000 ông T3 chết không để lại di chúc nên bà K được hưởng ½ giá trị tài sản trong khối tài sản chung, còn phần di sản thừa kế của ông T3 để lại bà K đề nghị chia cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận tài sản đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị K, ông Trần Đình T3. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 21/10/2022, thì phần diện tích đất đang tranh chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại phố C, phường Đ, thành phố T ở thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010; diện tích đất 511,3m²; diện tích đất tăng 96,3m² so với diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dung đất số E0278374 do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/10/1994 mang tên ông Trần Đình T3; tài sản trên đất có 01 nhà mái bằng diện tích 45,7 m² xây dựng năm 1993. Ý kiến khu dân cư tại khu phố nơi bà Nguyễn Thị K sinh sống thì toàn bộ diện tích đất gia đình bà K đang quản lý sử dụng được UBND xã Đ cấp năm 1986; phần diện tích 96 m² đất tăng sử dụng cùng thời điểm với thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa đất không có tranh chấp với các hộ liền kề. Do đó cần xác định phần tài sản của bà Nguyễn Thị K trong khối tài sản chung là 100 m² đất ở và 155,65m² đất vườn (trong đó phần diện tích đất tăng là 48,15m² so với diện tích đất được cấp trong GCNQSDĐ) và giá trị tài sản trên đất 28.365.500đ. Tổng giá trị tài sản của bà Nguyễn Thị K là: 1.222.928.000₫.
Phần di sản thừa kế của ông Trần Đình T3 để lại 100 m² đất ở và 155,65m² đất vườn (trong đó phần diện tích đất tăng là 48,15m² so với diện tích đất được cấp trong GCNQSDĐ) và ½ trị giá ngôi nhà bà K đang quản lý sử dụng là 28.365.500₫.
2.2 Ông Trần Đình T3 chết không để lại di chúc nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông T3 là bà Nguyễn Thị K, anh Trần Đình T3, anh Trần Đình S, chị Trần Thị T1 và anh Trần Xuân H2. Bà Lê Thị L ( mẹ đẻ ông T3) chết sau ông T3 nên bà L cũng được hưởng một phần di sản thừa kế của ông T3 như hàng thừa kế thứ nhất, nên di sản thừa kế sẽ được chia cho 07 kỷ phần (trong đó 01 kỷ phần trích cho công sức). Bà L đã chết nên các con của bà L gồm ông Trần Đình H3, ông Trần Đình T2, bà Trần Thị G, Trần Thị K1, Trần Thị C1 được hưởng thừa kế của bà L. ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 từ chối nhận phần di sản thừa kế; ông Trần Đình T2, bà Trần Thị G giao lại phần thừa kế được hưởng cho anh Trần Đình C. Nên phần thừa kế của bà L được chia cho 05 người con như cấp sơ thẩm xác định là đúng quy định .
2.3. Căn cứ vào di sản thừa kế để lại và hàng thừa kế của ông T3, cấp sơ thẩm đã chia di sản thừa kế cho các hàng thừa kế được hưởng như quyết định của bản án sơ thẩmlà đúng quy định, các hàng thừa kế không có kháng cáo.
2.3. Về kháng cáo của bà Đàm Thị H :
Bà H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo về nội dung cấp sơ thẩm yêu cầu ông C và bà H phải tháo dỡ công trình phụ để trả lại phần diện tích đất là 24,6m² cho bà K. Bà H là vợ của ông C kháng cáo không chấp nhận tháo dỡ công trình phụ vì lý do: Công trình phụ là do được bố mẹ là ông T3, bà K cho đất và vợ chồng bà làm móng nhà từ năm 2003 trong đó có cả công trình phụ, đến năm 2007 thì xây nhà kết cấu khung chịu lực, tường xây gạch, mái bằng đổ bê tông cốt thép tầng 1 trong đó có công trình phụ, đến năm 2019 thì vợ chồng chị làm tiếp tầng 2 và cả công trình phụ tầng 2 và ăn ở sinh sống kiên cố từ đó cho đến nay. Do công trình phụ có móng xây liền với kết cấu toàn bộ căn nhà, nếu phá dỡ sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ căn nhà, vì vậy, bà đề nghị được giữ lại công trình phụ này và mua lại của bà K phần diện tích đất là 24,6m² là 50.000.000 đồng.
Ông Trần Đình C không kháng cáo, nhưng ông cũng thống nhất với ý kiến của bà H, đề nghị được giữ lại công trình phụ này và mua lại của bà K phần diện tích đất là 24,6m² là 50.000.000 đồng.
Xét thấy, về nội dung “ Công trình phụ là do vợ chồng ông C bà H từ năm 2003, làm móng nhà trong đó có công trình phụ, đến năm 2007 thì xây nhà mái bằng tầng 1 trong đó có công trình phụ, đến năm 2019 thì vợ chồng bà làm tiếp tầng 2 và cả công trình phụ tầng 2 và ăn ở sinh sống kiên cố từ đó cho đến nay” đều được các đương sự thừa nhận trong đó có bà K. Ông C bà H xây nhà trong đó có công trình phụ trên đất của bố mẹ ông C là Ông T3 và bà K cho vợ chồng ông, nhưng không có giấy tờ xác định rõ diện tích đất cho là bao nhiêu, nhưng thể hiện bà K đồng ý cho vợ chồng ông C, bà H xây dựng nhà.
Tại phiên toà ngày 29/3/2024 ông Trần Đình C và bà Đỗ Thị H4 đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên toà để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ lại phần công trình phụ mà cấp sơ thẩm buộc tháo dỡ.
Tại kết quả xem xét thẩm định lại ngày 17/4/2024 tại nhà bà K, ông C, bà H4 : Công trình phụ do ông C, bà H4 xây trên toàn bộ diện tích đất là 24,6m² kêt cấu chung khối với toàn bộ công trình nhà xây gồm 2 tầng của ông C, bà H4. Công trình phụ kết cấu 2 tầng, dưới sàn tầng 1 là bể phốt. Tầng 1 gồm nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh. Tường xây gạch, mái đổ bê tông cốt thép. Tầng 2 gồm 1 nhà vệ sinh, 1 nhà tắm, mái lợp tôn. Toàn bộ công trình phụ kết cấu liền với nhà, ông C và bà H4 xây và sử dụng ổn định từ trước đến nay.
HĐXX thấy rằng, việc tháo dỡ công trình phụ này sẽ ảnh hưởng đến kết cấu toàn bộ căn nhà, mặt khác khi ông C, bà H4 xây dựng thì bà K biết và không ngăn cản cũng như không chứng minh được việc ngăn cản. Để bảo đảm quyền lợi cho bà K, ông C, bà H4, đảm bảo cho toàn bộ công trình xây dựng của ông C, bà H4. HĐXX, chấp nhận kháng cáo của bà H4, chấp nhận ý kiến của ông C, cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tại phiên toà sửa án sơ thẩm không buộc ông C, bà H4 phải tháo dỡ công trình phụ để trả lại đất cho bà K. Nhưng ông C, bà H4 phải trả lại giá trị đất bằng tiền cho bà K đối với diện tích đất là 24,6m².
Vì ông C đã được chia thừa kế về đất, trong đó có đất ở và đất vườn, nên HĐXX xác định phần diện tích đất là 24,6m² là đất vườn để không ảnh hưởng đến phần diện tích đất ở của bà K. Theo kết quả giá thị trường của Bản án sơ thẩm xác định thì diện tích đất là 24,6m² X 1.250.000 đ = 30.750.000 đồng, tuy nhiên ông C, bà H4 đồng ý trả cho bà K là 50.000.000 đồng, nên HĐXX chấp nhận sự tự nguyện này.
Do ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 tại cấp sơ thẩm từ chối nhận thừa kế của bà L, tại cấp phúc thẩm ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 có đơn kháng cáo là được nhận thừa kế của bà L và tặng cho lại vợ chồng bà H4 kỷ phần thừa kế, nên đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận.Tuy nhiên ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1, bà Trần Thị C1 từ chối nhận phần di sản thừa kế trước thời điểm chia thừa kế theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự, nên ông H3, bà K1, bà C1 không có quyền kháng cáo, do vậy không chấp nhận kháng cáo của ông, bà.
[6] Từ các phân tích trên, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sủa bản án sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá không buộc ông C và bà H4 phải tháo dỡ công trình phụ để trả lại đất cho bà K. Ông C và bà H4 trả cho bà K 50.000.000 đồng là số tiền đối với diện tích đất là 24,6m², như vậy phần diện tích đất của ông Trần Văn C2 được chia bao gồm phần diện tích mà cấp sơ thẩm đã xác định là 117,1m² và 24,6m² là diện tích xây công trình phụ. Tổng diện tích ông C2 được chia là 141,7m² (trong đó đất ở là 42,48 m², 97,24 m² đất vườn) được xác định tứ cận như sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm.
Đối với diện tích đất của bà Nguyễn Thị K so với cấp sơ thẩm xác định giảm 24,6m² do cấp phúc thẩm không buộc ông C2, bà H4 tháo dỡ công trình phụ để trả đất cho bà, bà K còn lại tổng diện tích là 245,2 m² đất (trong đó có 100 m² đất ở và 145,82 m² đất vườn) được xác định tứ cận như sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm.
[7]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà H4 đã nộp các chi phí và không yêu cầu các đương sự khác phải trả lại. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà H4 nên chấp nhận.
[8]. Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Tổng giá trị tài sản thừa kế ông Trần Đình C được hưởng theo cấp sơ thẩm xác định là 323.278.000 đồng, và số tiền án phí sơ thẩm ông C phải nộp là 16.200.000 đồng. Tại cấp phúc thẩm ông Trần Đình C được chấp nhận thêm phần diện tích đất là 24,6m² là đất vườn. Theo kết quả giá thị trường của Bản án sơ thẩm xác định thì diện tích đất : 24,6m² X 1.250.000 đ = 30.750.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản thừa kế ông Trần Đình C được hưởng, và số giá trị đất tăng thêm là: 323.278.000 đồng +30.750.000 đồng = 354.028.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 quy định về án phí lệ phi của Toà án, HĐXX xác định lại án phí sơ thẩm cho ông Trần Đình C là: 354.028.000 đồng X 5% = 17.701.400 đồng( làm tròn là 17.701.000 đồng)
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa bản án sơ thẩm nên Bà Đàm Thị H không phải nộp án phí phúc thẩm. Trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Kháng cáo của Trần Thị C1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Nguyễn Thị K, ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14.
[9]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Áp dụng: khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228; Điều 271; 273 BLTTDS; Các Điều 649; 650; 651; 652; 658; 660 BLDS năm 2015.
II. Sửa bản án sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá không buộc ông Trần Đình C và bà Đàm Thị H phải tháo dỡ công trình phụ để trả lại diện tích đất là 24,6m² cho bà K.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K về yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Trần Đình T3 theo pháp luật.
Phần di sản thừa kế và tài sản của bà Nguyễn Thị K được hưởng có tổng diện tích là 245,2 m² đất (trong đó có 100 m² là đất ở và 145,82 m² là đất vườn) tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010).
Phần diện tích đất của bà K có các phía:
Phía Đông giáp nhà bà C3, nhà anh S.
Phía tây: giáp ngõ đi.
Phía bắc: giáp đất ông T6.
Phía nam: giáp đất anh C, anh S và đường Đ.
(có sơ đồ kèm theo)
Giao bà Nguyễn Thị K quản lý sử dụng: 01 nhà mái bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 1993; 01 nhà ở mái lợp tôn, tường xây gạch 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 2006.
+ Chia cho ông Trần Đình C 141,7 m² đất (trong đó đất ở là 42,48 m², 97,24 m² đất vườn) tại thửa đất số 1140, tờ bản đồ số 03, địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 24; bản đồ địa chính phường Đ đo vẽ năm 2010). Ông C có trách nhiệm chênh lệch lại cho chị Trần Thị T1 số tiền 191.116.000đ; Chênh lệch lại cho bà Nguyễn Thị K số tiền 2.793.000đ.
Diện tích đất của anh C có các phía:
Phía Đông: giáp đất bà K.
Phía tây: giáp đường ngõ.
Phía bắc: giáp đất bà K.
Phía nam: giáp đường Đ.
(có sơ đồ kèm theo)
Giao ông Trần Đình C, bà Đàm Thị H quản lý sử dụng toàn bộ các công trình đã xây dựng trên diện tích 141,7 m² đất tại địa chỉ phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Ông Trần Đình C và bà Đàm Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị K 50.000.000 đồng( Năm mươi triệu đồng) là số tiền đối với diện tích đất là 24,6m²
III. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27; khoản 2 Điều 29, tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Mục A Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 về quy định mức án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Đình C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 17.701.000 đồng ( Mười bảy triệu bảy trăm linh một nghìn đồng).
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Đàm Thị H không phải nộp án phí phúc thẩm. Trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do ông Trần Đình C đã nộp thay theo biên lai thu tiền số 0002970 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá.
Bà Trần Thị C1 phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự phúc thẩm, do kháng cáo không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do ông Trần Đình C đã nộp thay theo biên lai thu tiền số 0002974 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá.( Bà C1 đã nộp đủ án phí)
Bà Nguyễn Thị K, ông Trần Đình H3, bà Trần Thị K1 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14
IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trường Du |
Bản án số 56/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 56/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà K yêu cầu chia thừa kế
