TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/HSST
Ngày: 26 – 02 – 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhơn;
- Ông Lê Văn Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phan Thành N; giới tính: nam; sinh năm 1998 tại tỉnh Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp G, xã B, huyện M, tỉnh Long An; chỗ ở: nhà không số, tổ A, Khu phố A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phan Ngọc T và bà Trần Thị M, có vợ là Nguyễn Quách Thiện Huỳnh .
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Ngày 08/4/2015, bị Công an quận G bắt về tội “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm tù theo bản án số 225/HSST ngày 21/9/2015. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí.
Tạm giam từ ngày 10/04/2023Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Dương Hoàng P; giới tính: nam; sinh năm 1988 tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: nhà số H đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự
do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Dương Văn H và bà Huỳnh Thị Thanh T1, có vợ là Nguyễn Ngọc H1 và 01 con sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
+ Ngày 01/12/2011, bị Công an quận G bắt về tội “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 03 năm tù giam theo bản án số 166/HSST ngày 26/7/2012. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí.
+ Ngày 16/02/2014, bị Công an thị xã D, tỉnh Bình Dương bắt về tội “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù theo bản án số 183/2014/HSST ngày 28/8/2014. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí.
Tạm giam từ ngày 10/04/2023Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Đỗ Phạm Quốc C; giới tính: nam; sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Nhà số D đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đỗ Phạm Quốc D và bà Ninh Thị N1, có vợ là Mai Thị Kiều O và 02 con: lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 28/02/2013, bị Công an quận G bắt về tội “Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam theo bản án số 199/HSST ngày 06/8/2013. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí.
Tạm giam từ ngày 03/3/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: 4 N, Phường B, Quận D, Thành phố hồ Chí Minh.
- Ông Trần Lê Q, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 V, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trương Văn N2, sinh năm 1958 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: C N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đỗ Hiếu C1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ; B đường số H, M, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Nguyễn Hải Tuyết V, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: A ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Lê C2, (vắng mặt)
Địa chỉ: B đường V, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Phạm Minh T3, (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Mai Thị Kiều O, (có mặt)
Địa chỉ: 4 đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Dương Thị Ngọc H2, (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 4.5 Lô E B, KP4, Phường B, TP ., TP .
- Bà Nguyễn Ngọc H1, (có mặt)
Địa chỉ: 8 đường số A, Phường A, quận G, TP .
- Ông Trần Bá T4, (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 2 L, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
- Ông Dương Quốc D1, (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
- Bà Trần Thị Thu T5; (vắng mặt)
Địa chỉ: 3 N, phường B, quận T, TP .
- Ông Nguyễn Văn T6; (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 M, xã X, huyện H, TP .
- Ông Nguyễn Đức V1, (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: E đường số B, phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Kiều Phạm Khánh V2, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Thanh S, (vắng mặt).
Địa chỉ: C Ấp T, xã T, huyện H, TP
Người bào chữa:
Người bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng P: Bà Lê Nguyễn Quỳnh T7 – Luật sư thuộc văn phòng L2 – Đoàn luật sư Thành phố H
Người bào chữa cho bị cáo Phan Thành N: Ông Nguyễn Tuấn N3 – Luật sư thuộc Công ty L3 – Đoàn luật sư Thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian tết nguyên đán năm 2023, trên địa bàn quận B liên tục xảy ra các vụ án cướp giật tài sản. Qua truy xét, Cơ quan điều tra đưa các đối tượng Phan Thành N, Dương Hoàng P về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, N và P khai có cùng Đỗ Phạm Quốc C và Lý Thiên T8 và đối tượng tên Q1 (không rõ lai lịch) thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản.
Vụ thứ 1: Tối ngày 21/01/2023, Nam điện thoại rủ P đi cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu xài, P đồng ý. P gửi xe mô tô Exciter 135 màu đen trắng, biển số 63B1- 285.35 tại bãi xe chung cư A, Quận A. Đến sáng ngày 22/01/2023, P chạy xe máy Honda Future biển số 59F2 – 217.12 đến bãi xe chung cư A để gặp N, P gửi xe Future lại bãi xe. N điều khiển xe Exciter biển số 63B1 – 285.35 chở P một đoạn rồi dừng xe lại để P lấy biển số 61B2 – 129.40 dán đè lên biển số 63B1 – 285.35 và tiếp tục ngồi sau xe để N chở. Khi đến ngã tư đường N giao L, quận G thì gặp T8 chở Q1 bằng xe máy Exciter màu đen biển số 59F2 – 237.68, C một mình chạy xe Exciter 135 màu xanh trắng biển số 59P2 – 830 được C dán đè lên bằng biển số giả 65L1 – 227.66, từ đây cả nhóm xuất phát đi tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm P chạy trên đường L hướng về Quận A thì N nhìn thấy ông Nguyễn Văn T2 chở vợ là bà Nguyễn Thị C3 đang đi bên đường hướng ngược lại, trên cổ ông T2 có đeo 01 sợi dây chuyền vàng loaị 24K trọng lượng 01 lượng và 01 mặt phật di lặc bằng đá màu nâu được bọc viền vàng đính đá màu trắng có khoen nối bằng vàng, trọng lượng vàng của mặt là 01 chỉ vàng 24K nên Nam chỉ P thấy rồi N điều khiển xe quay đầu lại chạy theo sau, khi chạy đến trước nhà số B đường V, Phường A, Quận B thì N chở P vượt lên ngang xe ông T2, rồi P kêu “Xe chú bị cán đinh kìa”, ông T2 tấp xe vào lề và khom người xem bánh xe, cùng lúc này T8 chở Q1 từ phía sau chạy vọt lên áp sát bên trái xe ông T2, Q1 ngồi sau dùng tay giật lấy sợi dây chuyền vàng của ông T2 đeo trên cổ, rồi T8 chở Q1 tăng ga bỏ chạy, C cùng N chở P chạy theo sau cản địa. Cả nhóm cùng tẩu thoát chạy ra đường L hướng về quận G. Sau đó, cả nhóm đưa sợi dây chuyền vừa giật được cho P mang đi bán. Sau khi bị giật, ông T2 tìm lại được 01 đoạn dây chuyền và 01 mặt phật bị nhóm P giật rớt lại rồi đến trình báo cơ quan Công an.
Bản kết luận định giá tài sản số 345/KLĐGTS-TCKH ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 24K trọng lượng 10 chỉ và 01 mặt phật di lặc bằng đá nâu được bọc viền vàng đính đá màu trắng có khoen nối bằng vàng, trọng lượng vàng của mặt là 01 chỉ vàng 24K, trị giá là 60.500.000 đồng.
Vụ thứ 2: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 23/01/2023, N chở P bằng xe máy Exciter 150 màu đen trắng biển số 59B1 – 458.72 đã được P dán đè lên bằng biển số giả (không rõ biển số giả), T8 điều khiển xe máy Exciter 150 màu đen biển số 59F2 – 237.68 chở Q1, C một mình chạy xe Exciter 135 màu xanh trắng biển số 59P2 – 830.93 được C dán đè lên bằng biển giả 65L1 – 227.66 để đi tìm người đi đường sơ hở hòng cướp giật. Khi chạy đến đường V hướng từ Phan Đăng L về P thuộc quận B thì N nhìn thấy ông Trần Lê Q điều khiển xe gắn máy Future Neo biển số 54P3 –
6884, trên cổ ông Q có đeo 01 sợi dây chuyền vàng loại 18K trọng lượng 1,2 lượng và 01 mặt tượng phật bằng đá màu xanh nên N chỉ P thấy rồi N điều khiển xe chạy theo. Khi đến trước số A V, Phường C, quận B thì N điều khiển xe chạy lên áp sát phía bên trái của ông Q, P dùng tay phải giật sợi dây chuyền của ông Q đang đeo trên cổ nhưng giật không đứt nên N tăng ga xe chở P bỏ chạy, lúc này ông Q chạy xe đuổi theo N và P, khi đến trước số H P, Phường C, quận B thì T8 chở Q1 điều khiển xe chạy từ phía sau vọt lên áo sát xe ông Q, Q1 ngồi sau dùng tay giật lấy sợi dây chuyền vàng của ông Q làm ông Q té ngã rồi Thạch tăng ga chở Q1 bỏ chạy, C cùng N chở P chạy theo sau cản địa. Cả nhóm cùng tẩu thoát chạy ra hướng về quận P. Sau đó cả nhóm thống nhất đưa sợi dây chuyền giật được cho P mang đi bán.
Bản kết luận định giá tài sản số 345/KLĐGTS-TCKH ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng, trọng lượng 12 chỉ và 01 mặt tượng phật bằng đá màu xanh, trị giá là 49.860.000 đồng.
Đối với bị hại Trần Lê Q, khi bị giật tài sản có bị thương tích phần mềm trầy xước ở cổ, tay trái và chân trái, ông Q cho biết thương tích không đang kể nên không có đi khám ở đâu, ông Q có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố về việc bị thương tích.
Vụ thứ 3: Khoảng 10 giờ ngày 23/01/2023, khi đi đến đường X hướng từ ngã tư H về cầu T thì C chạy xe bị lạc đường, lúc này, T8 nhìn thấy ông Trương Văn N2 đang điều khiển xe gắn máy SH mode biển số 59S3 – 715.29 chở vợ là Phạm Thị Thúy L1, trên cổ ông N2 có đeo 01 sợi dây chuyền vàng loại 24K và 01 mặt dây chuyền hình vuông tượng nữ thần tự do bằng vàng 24K, có tổng trọng lượng vàng là 01 lượng vàng 24K nên thạch chỉ cho Q1 thấy rồi T8 điều khiển xe chạy theo. Khi đến trước số A X, Phường A, quận B thì T8 tăng ga chạy lên áp sát bên trái xe của ông N2, Q1 ngồi sau dùng tay giật lấy sợi dây chuyền vàng của ông N2 đang đeo trên cổ rồi T8 chở Q1 tăng ga bỏ chạy, N chở P chạy theo sau cản địa. Cả nhóm cùng tẩu thoát chạy về hướng Quận A. Sau đó, cả nhóm thống nhất đưa sợi dây chuyền giật được cho P mang đi bán.
Bản kết luận định giá tài sản số 345/KLĐGTS-TCKH ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 24K và mặt dây chuyền hình vuông tượng nữ thần tự do bằng vàng 24K có tổng trọng lượng là 10 chỉ, trị giá là 55.000.000 đồng.
Đối với bị hại Trương Văn N2, khi bị giật tài sản có bị thương tích phần mềm trầy xước ở cổ, ông N2 cho biết thương tích không đáng kể nên không có đi khám ở
bi thương tích, ông N2 và đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố về việc bị thương tích.
Ngoài ra, Đỗ Phạm Quốc C còn cùng Lý Thiên T8 và đối tượng tên T9 (chưa rõ lai lịch) có tham gia thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 02/3/2023, cụ thể như sau:
Vụ 1: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/03/2023, T8 gọi điện thoại cho C hỏi “có đi làm không” nghĩa là đi cướp giật tài sản thì C đồng ý và hẹn gặp nhau tại Quốc lộ A. C và T8 bàn bạc thỏa thuận với nhau là T8 và T9 (chưa rõ lai lịch) là người trực tiếp cướp giật tài sản, còn C thì sử dụng bình xịt hơi cay để xịt hơi cay vào người truy đuổi. Cả 3 thỏa thuận nếu cướp giật được tài sản có giá trị từ 40 đến 50 triệu thì chia cho C 10.000.000 đồng, nếu ít thì chia đôi. C điều khiển xe mô tô loại Exciter 135, màu trắng đen đỏ, gắn biển số 62L1-869.82 có đem theo 01 bình xịt hơi cay để trong hộc phía trước xe. T8 điều khiển xe mô tô loại Exciter, màu xanh, gắn biển số 65L2-166.81 chở T9 đi thẳng xuống thành phố M, tỉnh Tiền Giang do T8 dẫn đường. Khi đi đến đường N thì T8 nhìn thấy ông Đỗ Hiếu C1 có đeo 01 sợi dây chuyền vàng 18K trong lượng 01 lượng trên cổ điều khiển xe mô tô loại SH màu đỏ, biển số 63B9-789.16 chở vợ là bà Võ Thị Phương T10 lưu thông từ đường N rẽ phải vào đường R thuộc Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, T8 điều khiển xe mô tô chở T9 tăng ga xe vượt lên, áp sát bên trái xe mô tô của ông Hiếu C1, T9 ngồi phía sau xe dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền của ông H3 C1 đang đeo trên cổ rồi tăng ga bỏ chạy trên đường R về hướng Cầu Q, ông Hiếu C1
truy hô “Cướp, cướp” thì C1 tăng ga xe mô tô vượt lên dùng tay trái cầm bình xịt hơi cay xịt về phía ông Hiếu C1, để cả nhóm tẩu thoát.
Bản kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐGTS ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M, tỉnh Tiền Giang, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng 01 lượng có giá là 32.500.000 đồng.
Vụ 2: Sau khi cướp giật tài sản của ông Đỗ Hiếu C1 thì T8 điều khiển xe mô tô loại Exciter, màu xanh, gắn biển số 65L2-166.81 chở T9 (chưa rõ lai lịch), C1 điều khiển xe mô tô loại Exciter 135, màu trắng đen đỏ, gắn biển số 62L1-869.82 có đem theo 01 bình xịt hơi cay để trong hộc phía trước xe chạy phía sau T8. Khi đi đến đoạn đường Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì nhìn thấy bà Nguyễn Hải Tuyết V điều khiển xe mô tô loại SH 125, màu trắng, biển số 71G1-041.36 đang lưu thông trên đường Đ hướng về ngã ba chốt đèn thuộc Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì bất ngờ bị T8 điều khiển xe mô tô loại Exciter, màu xanh, gắn biển số 65L2-166.81 chở T9 đi ngược chiều áp sát, T9 ngồi phía sau xe mô tô giật lấy 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng 05 chỉ và mặt dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,0470 chỉ của bà V đang đeo trên cổ rồi tăng ga xe mô tô tẩu thoát về hướng đường N, C1 điều khiển xe mô tô loại Exciter 135, màu trắng đen đỏ, gắn biển số 62L1-869.82 chạy theo phía sau. Lúc này bà V có truy hô thì ông Phạm Minh T3 có truy đuổi theo phía sau đến đường N thì C1 liền xịt hơi cay vào người ông T3, để cả ba tẩu thoát.
Bản kết luận định giá tài sản số 213/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2024 Hội đồng định giá tài sản thành phố M, tỉnh Tiền Giang, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18k trọng lượng 05 chỉ và mặt dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,0470 chỉ có giá trị là 22.902.750 đồng.
Vật chứng gồm:
- Thu giữ từ bị hại Nguyễn Văn T2: 01 đoạn dây kim loại màu vàng dài 4 cm và 01 mặt phật di lặc bằng đá màu nâu được bọc viền kim loại màu vàng đính đá màu trắng có khoen nối bằng kim loại màu vàng, qua thẩm định 01 đoạn dây kim loại màu vàng dài 4 cm là vàng thật loại 24k trọng lượng 1,5 chỉ và 01 mặt phật di lặc bằng đá màu nâu được bọc viền kim loại màu vàng đính đá màu trắng có khoen nối kim loại màu vàng là vàng thật loại 24K, trọng lượng vàng của mặt là 01 chỉ, đây là đoạn dây chuyền và mặt dây chuyền của ông T2 bị nhóm P giật rớt lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T2.
- Thu giữ từ Phan Thành N:
+ 01 điện thoại Iphone 13 Promax 128GB màu xanh (đây là tài sản cá nhân của N).
+ 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh, có gắn kính, ghi hiệu GKS Helmets-401 (là nón mà bị cáo Nam đội lúc gây án).
+ 01 thùng CPU màu đen, không rõ model; 01 màn hình AOCC27G2X màu đen; 01 bàn phím hiệu RK Royal màu đen; 01 chuột hiệu Fuhlen G40 màu đen; 02 phuộc nhún màu đen bạc, không rõ hiệu dài khoảng 40cm, lò xo màu đen; 02 lò xo màu vàng dài khoảng 20cm, rộng khoảng 7cm (là tài sản cá nhân của bị cáo N).
+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59G2- 614.25, số khung: MH1KF4118KK443567, số máy: KF41E-1444375. Xác minh được biết chiếc xe trên do Đỗ Phạm Quốc C đứng tên chủ sở hữu. C xác định xe trên là của vợ Mai Thị Kiều O mua lại hồi năm 2020, lúc đó bà O đang chăm con nhỏ nên để bị cáo đi làm thủ tục sang tên đứng tên chủ xe. Tiếp tục làm việc, bà O khai chiếc xe gắn máy Honda Vario biển số 59G2-614.25 là tài sản của O, chiếc xe này bà O mua lại hồi năm 2020 hay năm 2021 gì đó (O không nhớ rõ), do thời điểm đó bà O bận chăm con nhỏ nên bà O để chồng là Đỗ Phạm Quốc C đi làm thủ tục sang tên và đứng tên chủ xe. Mục đích bà O mua chiếc xe này để là phương tiện đi lại và đưa rước con đi học. Khoảng ngày 07/4/2023, O đưa xe trên cho Phan Thành N là bạn của C (chồng O) mượn để đi chơi với bạn, O không biết N có sử dụng xe trên làm việc gì phạm pháp hay không, O có đơn xin nhận lại xe để làm phương tiện đi lại và đưa rước con đi học. Xét thấy chiếc xe trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59G2- 614.25 cho bà Mai Thị Kiều O là chủ sở hữu.
- Thu giữ từ Dương Hoàng P:
+ 01 điện thoại Iphone 12 Promax 256GB màu xanh (là tài sản cá nhân của P).
+ 01 xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 59B1- 458.72, số khung: RLCUG0610HY443264, số máy: G3D4E-463777: Qua xác minh được biết chủ xe là bà Dương Thị Ngọc H2. Qua làm việc, bà H2 khai mua xe trên hồi năm 2020 để sử dụng, đến năm 2021 thì bà H2 đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch). Bị cáo P cùng bị cáo N khai hùn tiền mua lại xe này trên mạng từ 01 người thanh niên không rõ lai lịch. Cơ quan điều tra tiến hành đăng Báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy trên nhưng không ai đến nhận.
+ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng): Quá trình điều tra xác định đây là tiền cá nhân của bà Nguyễn Ngọc H1 (vợ của bị cáo P), không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho bà H1.
+ 01 xe gắn máy Honda SH 150i biển số 59V1- 256.42, số khung: ZDCKF10B0BF115042, số máy: KF08E-1086291-KTGE1. Qua xác minh được biết chủ xe là ông Trần Bá T4. Qua làm việc, ông T4 khai mua xe trên hồi năm 2021.
Ngày 01/4/2023, ông T4 có đưa chiếc xe trên nhờ bị cáo P sửa dùm do xe bị hư, sau khi sửa xong thì ông T4 cho bị cáo P mượn xe trên để đi đám cưới. Ngày 11/4/2023, bị cáo P sử dụng xe trên lưu thông trên đường thì bị Đội CSHS Công an B kiểm tra hành chính và thu giữ. Quá trình điều tra, xét thấy chiếc xe gắn máy hiệu Honda SH 150i biển số 59V1- 256.42 không liên quan đến vụ án và là tài sản hợp pháp của ông Trần Bá T4, ông T4 có đơn xin nhận lại xe trên để làm phương tiện đi lại, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda SH 150i biển số 59V1- 256.42 cho ông Trần Bá T4.
+ 01 xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 63B1- 285.35, số khung: RLCE55P10DY315409, số máy: 55P1-315428. Qua xác minh được biết chủ xe là ông Dương Quốc D1. Qua làm việc, ông D1 khai mua xe trên hồi năm 2013 đến khoảng cuối năm 2022 thì ông D1 có đưa chiếc xe trên nhờ anh ruột là bị cáo P sửa dùm do xe bị hư, sau khi sửa xong thì ông D1 cho bị cáo P mượn xe trên để đi lại, sau đó bị cáo P sử dụng xe trên cùng đồng bọn đi cướp giật tài sản. Việc P sử dụng xe trên đi cướp giật tài sản thì ông D1 hoàn toàn không biết. Xét thấy chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 63B1- 285.35 là tài sản hợp pháp của ông Dương Quốc D1, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 63B1-285.35 cho ông Dương Quốc D1.
- Thu giữ từ Đỗ Phạm Quốc C:
+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha exciter màu trắng đen đỏ gắn biển số 62L1-869.82, số khung: RLCE1S9407Y015263, số máy: 1S94-015263: Kết quả điều tra xác minh từ số khung: RLCE1S9407Y015263, số máy: 1S94-015263 xác định là xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter biển số 59P2-830.93 do bà Trần Thị Thu T5 đứng tên chủ sở hữu bán. Xe này bị cáo C cùng vợ là Mai Thị Kiều O mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
Riêng biển số xe 62L1-869.82, qua tra cứu xác định biển số này trùng khớp với xe mô tô do bà Kiều Phạm Khánh V2 đứng tên chủ sở hữu, là xe hiệu Honda loại Airblade có số máy: JF94E0332625, số khung: RLHJF6335MZ669264, hiện bà V2 đang quản lý sử dụng xe có biển số hợp lệ từ ngày 11/01/2022 đến nay, bà V2 không liên quan gì và cũng không yêu cầu gì đối với biển số xe đang tạm giữ.
+ 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có hình màu trắng, có gắn kính, phía sau nón có chữ Nón Sơn; 01 (một) cái áo sọc caro, màu xanh đỏ trắng; 01 (một) quần sọt màu xám trắng; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen, có tay cầm bằng nhựa màu đen và nút ấn bằng nhựa màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, số máy MH903LL/A, số sê-ri: 0X3DN003N72K, có gắn sim thuê bao số 0775653786: Đây là tang vật bị cáo C sử dụng gây án tại Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 104605, biển số 59P2-830.93 do bà Trần Thị Thu T5 đứng tên.
+ 01 đĩa tròn chứa 02 đoạn dữ liệu camera an ninh ghi hình vụ việc và đối tượng thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 02/3/2023 trên đường R, P, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Thu giữ tại bãi giữ xe địa chỉ C Ấp T, xã T, huyện H, TP . do Nguyễn Thanh S làm chủ:
+ 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59G2 - 814.81, số khung: RLCE1S9A0BY021197, số máy: 1S9A-021204: Kết quả xác minh giám định xe, được biết chủ xe là ông Vũ Tiến P1, địa chỉ 93B/Bis KP1, Phường T, Quận A, TP .. Ngày 11/8/2020, P1 đã bán xe này lại cho ông Đặng Thành N4, địa chỉ D Q, Phường A, quận G), sau đó N4 đã bán xe trên lại cho T8, T8 gửi xe trên tại bãi giữ xe địa chỉ C Ấp T, xã T, huyện H, TP . do Nguyễn Thanh S (sinh năm 1976) làm chủ rồi nhờ ông Nguyễn Đức V1 bán dùm nhưng chưa bán được, Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe trên. Cơ quan điều tra tiến hành đăng Báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy trên nhưng không ai đến nhận. Quá trình điều tra hiện chưa xác định được chủ sở hữu xe trên. Xét thấy chưa đủ cơ sở xác định xe trên là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
- Thu giữ từ đối tượng Nguyễn Đức V1:
+ 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 50Y1- 693.92, số khung: RLCUG1210MY015275, số máy: G3M5E-019783: Kết quả xác minh giám định xe, được biết chủ xe là Nguyễn Văn T6, địa chỉ 11/6 M, xã X, huyện H, TP .. Qua xác minh, được biết Nguyễn Văn T6 có hộ khẩu tại 1 M, xã X, huyện H, TP . nhưng hiện không có mặt tại địa phương, không rõ ở đâu nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Chiếc xe này bị cáo T8 đưa qua tiệm rửa xe của Nguyễn Đức V1 nhờ rửa dùm nhưng chưa đến lấy, ông V1 giao nộp cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra tiến hành đăng Báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy trên nhưng không ai đến nhận. Quá trình điều tra hiện chưa xác định được chủ sở hữu xe trên. Xét thấy chưa đủ cơ sở xác định xe trên là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Về dân sự:
+ Gia đình các bị cáo N, P và C đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T2 số tiền 70.000.000 đồng, ông T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Gia đình các bị cáo N, P và C đã bồi thường cho bị hại Trần Lê Q số tiền 30.000.000 đồng, ông Q không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Gia đình các bị cáo N, P và C đã bồi thường cho bị hại Trương Văn N2 số tiền 70.000.000 đồng, ông N2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Gia đình bị cáo C đã bồi thường xong số tiền 20.000.000 đồng cho ông Đỗ Hiếu C1 và 35.000.000 đồng cho bà Nguyễn Hải Tuyết V. Ông C1 và bà V không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C đã thừa nhận hành vi phạm tội “Cướp giật tài sản của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 57/CTr-VKSBTh ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C về tội “Cướp giật tài sản thuộc trường hợp có tổ chức, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, và dùng thủ đoạn nguy hiểm theo quy định tại điểm a, điểm c, điểm d, khoản 2Điều 171của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C đã có hành vi cướp giật tài sản.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Phan Thành N từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù, bị cáo Dương Hoàng P từ 04 năm tù đến 05 năm tù, bị cáo Đỗ Phạm Quốc C từ 05 năm tù đến 06 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, tịch thu nộp ngân sách nhà nước điện thoại Iphone 11, các bị cáo phải nộp lại tiền thu lợi bất chính theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận gì, các bị cáo biết lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
Luật sư Nguyễn Tuấn N3 bào chữa cho bị cáo Phan Thành N trình bày tranh luận: Thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo N đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để làm sáng tỏ vụ án và giải quyết vụ án nhanh chóng, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại
điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ này.
Ngoài ra, bị cáo N còn là người bị bệnh, mất 01 quả thận, 01 phần lá lách, mất nhiều máu phải truyền nhiều máu của người khác cũng làm ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của bị cáo N. Gia đình bị cáo có nhiều thành tích trong hoạt động cách mạng: Bà cố ngoại của bị cáo N là mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình có 02 người công với cách mạng, ông cố ngoại là người có huân chương kháng chiến. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại và các bị hại đã có đơn bãi nại. Kính xin hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo N một mức án phù hợp, nhầm tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình là một người con ngoan, công dân có ích cho xã hội.
Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T7 bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng P trình bày tranh luận: Thống nhất và không tranh luận với tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng. Tuy nhiên bị cáo P tham gia với vai trò không phải là người chủ mưu rủ rê, bị cáo tham gia 3 vụ án, có 2 vụ án tham gia với vai trò là đồng phạm, 01 vụ bị cáo trực tiếp thực hiện nhưng bị cáo thực hiện không thành đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt. Đối với tiền thu lợi bất chính, bị cáo được chia tổng cộng là 102 triệu đồng. Tuy nhiên, số tiền mà các bị cáo thu lợi là do lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai này trùng khớp với hồ sơ vụ án nhưng đây là tổng số tiền thu lợi bất chính cho tất cả các vụ án trong đó có vụ chưa tìm ra được bị hại, hoàn cảnh gia đình của bị cáp khó khăn, đề nghị HĐXX xem xét giảm tiền thu lợi bất chính cho bị cáo P.
Tình tiết giảm nhẹ: Thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51. Ngoài ra, bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường cho các bị hại, do đó đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo P được hưởng tình tiết tích cực tác động với gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, và các bị hại có đơn bãi nại theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51. Ngoài ra, xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo thuộc thành phần lao động có hoàn cảnh khó khăn, có một con nhỏ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ đủ răn đe và cho bị cáo cơ hội sớm trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và là một công dân tốt.
Đại diện VKS tranh luận với các luật sư:
Cả 3 bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51.
Đối với tranh luận của luật sư Tuấn N3, Đại diện VKS có ý kiến như sau: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t, khoản 1
Điều 51, quan điểm của Đại diện VKS để được xem là tích cực với Cơ quan chức năng phát hiện tội phạm thì người phạm tội phải tích cực cung cấp bằng chứng, tài liệu, tin tức, thực hiện các yêu cầu để Cơ quan có chức năng phát hiện ra tội phạm. Đối với bị cáo N tại phiên tòa ngày hôm nay khai báo chưa thành khẩn, không đồng ý với tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t, khoản 1 Điều 51.
Đối với tranh luận của luật sư Quỳnh T7, Đại diện VKS có ý kiến như sau: bị cáo P tham gia với vai trò không phải rủ rê, và một vụ phạm tội chưa đạt, Đại diện VKS không đồng ý, trong vụ án ngày 23/02/2023, P là người cướp giật sợi dây chuyền, tuy nhiên giật chưa được sau đó Q1 và T8 đi phía sau dùng tay giật lấy sợi dây chuyền, N và P chạy sau cản địa, đại diện VKS cho đây là phạm tội tới cùng. Về tiền thu lợi bất chính: Tự các bị cáo khai số tiền thu lợi bất chính phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó phải tịch thu toàn bộ số tiền này để nộp ngân sách nhà nước.
Đại diện Viện kiểm sát đồng ý áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo theo đề nghị của các luật sư.
Luật sư Quỳnh T7 tranh luận về vật chứng: Bị cáo P sử dụng điện thoại Nokia để liên lạc với các bị cáo khác đã bị mất, không thu hồi được, Cơ quan điều tra thu 01 điện thoại iphone 12 promax của bị cáo P không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo.
Luật sư Tuấn N3 tranh luận: Thu giữ của bị cáo N 01 thùng CPU màu đen, không rõ model; 01 màn hình AOCC27G2X màu đen; 01 bàn phím hiệu RK Royal màu đen; 01 chuột hiệu Fuhlen G40 màu đen; 02 phuộc nhún màu đen bạc, không rõ hiệu dài khoảng 40cm, lò xo màu đen; 02 lò xo màu vàng dài khoảng 20cm, rộng khoảng 7cm không liên quan đến vụ án. Đề nghị trả lại cho bị cáo.
Đại diện VKS tranh luận: Về các vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ theo đề nghị của các luật sư, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đồng ý đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C đã thừa nhận:
Đây là vụ án “Cướp giật tài sảnđo các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C nhiều lần thực hiện từ khoảng tháng 01/2023. Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C và đồng phạm đã có hành vi cấu kết chặt chẽ với nhau, nhiều lần điều khiển xe mô tô để cướp giật tài sản của ông Nguyễn Văn T2, ông Trần Lê Q và ông Trương Văn N2 trên địa bàn quận B. Tổng số tài sản mà N và P cướp giật là 165.360.000 đồng, tổng số tài sản mà C cướp giật là 115.500.000 đồng.
Ngoài ra, Đỗ Phạm Quốc C còn cùng Lý Thiên T8 và đối tượng tên T9 (chưa rõ lai lịch) tham gia thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản của ông Đỗ Hiếu C1 và bà Nguyễn Hải Tuyết V trên địa bàn Thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 02/3/2023. Tổng số tài sản mà C1, T8, T9 cướp giật được là 55.402.750 đồng.
Hành vi phạm tội trên đây của các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp có tổ chức, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, và dùng thủ đoạn nguy hiểm tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, điểm c, điểm d, khoản 2Điều 171Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngày 16/5/2024, Cơ quan điều tra Công an quận B đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với Lý Thiên T8.
Đối với Đỗ Phạm Quốc C có hành vi dùng bình xịt hơi cay, nhưng qua điều tra xác định trước đây C chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc chưa bị kết án về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, và khi thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã xử phạt hành chính về hành vi này nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C đều là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bằng ý thức của mình, các bị cáo biết rõ đó là tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, lẽ ra các bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng do lười lao động mà lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cho bản thân nên các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở về cách quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Xét các bị cáo đã có hành vi cấu kết chặt chẽ với nhau, nhiều lần điều khiển xe mô tô để cướp giật tài sản. Tổng số tài sản mà các bị cáo N và P cướp giật là 165.360.000 đồng; tổng số tài sản mà bị cáo C cướp giật là 170.902.750 đồng (gồm tổng tài sản C cướp giật cùng với N, P là 115.500.000 đồng, tổng tài sản C cùng với T8, T9 cướp giật được là 55.402.750 đồng).
Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C về tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp có tổ chức, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, và dùng thủ đoạn nguy hiểm theo quy định tại điểm a, điểm c, điểm d, khoản 2Điều 171Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc truy tố này.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội của Nhà nước, gây tác động xấu đến đời sống xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân khi tham gia lưu thông trên đường phố. Hành vi cướp giật tài sản còn có thể gây nguy hại đến sức khỏe, sinh mạng của con người khi bị cáo cố tình trốn chạy sự truy đuổi của người dân và cơ quan chức năng nên Hội đồng xét xử cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo điểm b, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình các bị cáo N, P và C đã bồi thường cho: bị hại ông Nguyễn Văn T2 số tiền 70.000.000 đồng, bị hại ông Trần Lê Q số tiền 30.000.000 đồng, bị hại ông Trương Văn N2 số tiền 70.000.000 đồng; ông T2, ông Q, ông N2 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Gia đình bị cáo C đã bồi thường xong số tiền 20.000.000 đồng cho ông Đỗ Hiếu C1 và 35.000.000 đồng cho bà Nguyễn Hải Tuyết V; Ông C1 và bà V
không yêu cầu bồi thường gì thêm, Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đĩa tròn chứa 02 đoạn dữ liệu camera an ninh ghi hình vụ việc và đối tượng thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 02/3/2023 trên đường R, Phường A, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, số máy MH903LL/A, số sê-ri: 0X3DN003N72K, có gắn sim thuê bao số 0775653786: Đây là tang vật bị cáo C1 sử dụng gây án tại Thành phố M, tỉnh Tiền Giang
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen đỏ gắn biển số 62L1-869.82, số khung: RLCE1S9407Y015263, số máy: 1S94-015263 thu giữ của bị cáo C1: Kết quả điều tra xác minh từ số khung: RLCE1S9407Y015263, số máy: 1S94-015263 xác định là xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter biển số 59P2-830.93 do bà Trần Thị Thu T5 đứng tên chủ sở hữu bán; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 104605, biển số 59P2-830.93 do bà Trần Thị Thu T5 đứng tên. Xe này bị cáo C1 cùng vợ là Mai Thị Kiều O mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Xét bà O không có lỗi trong việc này, cần tuyên trả lại cho bà O xe và giấy chứng nhận đăng ký xe.
+ 01 xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 59B1- 458.72, số khung: RLCUG0610HY443264, số máy: G3D4E-463777: Qua xác minh được biết chủ xe là bà Dương Thị Ngọc H2 thu giữ của bị cáo P. Qua làm việc, bà H2 khai mua xe trên hồi năm 2020 để sử dụng, đến năm 2021 thì bà H2 đã bán lại xe trên cho người khác (không rõ lai lịch). Bị cáo P cùng bị cáo N khai hùn tiền mua lại xe này trên mạng từ 01 người thanh niên không rõ lai lịch. Cơ quan điều tra tiến hành đăng Báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy trên nhưng không ai đến nhận nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại Iphone 13 Promax 128GB màu xanh là tài sản cá nhân của bị cáo N nên cần trả lại.
- 01 điện thoại Iphone 12 Promax 256GB màu xanh là tài sản cá nhân của bị cáo P nên cần trả lại.
- 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh, có gắn kính, ghi hiệu GKS Helmets-401 là nón mà bị cáo Nam đội lúc gây án, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có hình màu trắng, có gắn kính, phía sau nón có chữ Nón Sơn; 01 (một) cái áo sọc caro, màu xanh đỏ trắng; 01 (một) quần sọt màu xám trắng; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen, có tay cầm bằng nhựa màu đen và nút ấn bằng nhựa màu vàng là tang vật bị cáo C1 sử dụng gây án tại Thành phố M, tỉnh Tiền Giang; biển số xe 62L1-869.82, qua tra cứu xác định biển số này trùng khớp với xe mô tô do bà Kiều Phạm Khánh V2 đứng
tên chủ sở hữu, là xe hiệu Honda loại Airblade, hiện bà V2 đang quản lý sử dụng xe có biển số hợp lệ từ ngày 11/01/2022 đến nay, bà V2 không liên quan gì và cũng không yêu cầu gì đối với biển số xe đang tạm giữ. Xét các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 thùng CPU màu đen, không rõ model; 01 màn hình AOCC27G2X màu đen; 01 bàn phím hiệu RK Royal màu đen; 01 chuột hiệu Fuhlen G40 màu đen; 02 phuộc nhún màu đen bạc, không rõ hiệu dài khoảng 40cm, lò xo màu đen; 02 lò xo màu vàng dài khoảng 20cm, rộng khoảng 7cm là tài sản cá nhân của bị cáo N, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo N.
Các vật chứng khác Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
[7] Về thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội, bị cáo Nam đã thu lợi bất chính được 102.000.000 đồng; bị cáo P đã thu lợi bất chính được 102.000.000 đồng; bị cáo C1 đã thu lợi bất chính được 60.000.000 đồng.
Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Đối với tên Q1 và T9 (chưa rõ lai lịch), nên đề nghị Cơ quan điều tra Công an quận B tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với ông Phạm Lê C2 là chủ tiệm V3, ông C2 không biết số vàng mà P bán là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định pháp luật.
[9] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản;
1.1.Căn cứ điểm a, điểm c, điểm d, khoản 2Điều 171điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phan Thành N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 10/4/2023.
1.2. Căn cứ điểm a, điểm c, điểm d, khoản 2Điều 171điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Dương Hoàng P 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 10/4/2023.
1.3. Căn cứ điểm a, điểm c, điểm d, khoản 2Điều 171điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đỗ Phạm Quốc C 05 (năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03/3/2023.
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đĩa tròn chứa 02 đoạn dữ liệu camera an ninh ghi hình vụ việc và đối tượng thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 02/3/2023 trên đường R, Phường A, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh, có gắn kính, ghi hiệu GKS Helmets-401; 01 nón bảo hiểm màu đen có hình màu trắng, có gắn kính, phía sau nón có chữ Nón Sơn; 01 cái áo sọc caro, màu xanh đỏ trắng; 01 quần sọt màu xám trắng; 01 bình xịt hơi cay màu đen, có tay cầm bằng nhựa màu đen và nút ấn bằng nhựa màu vàng; biển số xe 62L1-869.82.
- Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, có gắn sim số 0775653786 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
- Tuyên trả lại: 01 xe mô tô màu sơn: bạc cam đen, số khung: RLCE1S9407Y015263, số máy: 1S94-015263 và gắn biển số: 62L1-869.82. Theo phiếu trả lời kết quả xác minh xe ngày 26/11/2024, loại xe: 2 bánh từ 50 – 175 cm3, nhãn hiệu Yamaha, số loại: Exciter, màu sơn: đen đỏ, dung tích xy lanh 134 cm3 thu giữ của bị cáo C: Kết quả điều tra xác minh từ số khung: RLCE1S9407Y015263, số máy: 1S94-015263 xác định là xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter biển số 59P2- 830.93 do bà Trần Thị Thu T5 đứng tên chủ sở hữu bán; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 104605, biển số 59P2-830.93 do bà Trần Thị Thu T5 đứng tên cho bà Mai Thị Kiều O.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô: màu sơn: đỏ đen, biển số 59B1- 458.72, số khung: RLCUG0610HY443264, số máy: G3D4E-463777. Theo kết quả xác minh xe ngày 10/5/2023, loại xe 2 bánh từ 50 – 175 cm3, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter, màu sơn: xám đen, dung tích xy lanh: 149 cm3.
- Tuyên trả lại 01 điện thoại Iphone 12 Promax 256GB màu xanh (không kiểm tra tình trạng hoạt động) cho bị cáo P.
- Tuyên trả lại cho bị cáo Phan Thành N: 01 điện thoại Iphone 13 Promax 128GB màu xanh (không kiểm tra tình trạng hoạt động); 01 thùng CPU màu đen không rõ model, 01 màn hình AOCC27G2X màu đen, 01 bàn phím hiệu RK Royal màu đen, 01 chuột hiệu Fuhlen G40 màu đen (không kiểm tra tình trạng hoạt động); 02 phuộc nhún màu đen bạc, không rõ hiệu dài khoảng 40cm, lò xo màu đen; 02 lò xo màu vàng dài khoảng 20cm, rộng khoảng 7cm.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên buộc các bị cáo : Phan Thành N phải nộp lại 102.000.000 đồng, Dương Hoàng P phải nộp lại 102.000.000 đồng, Đỗ Phạm Quốc C phải nộp lại 60.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Phan Thành N, Dương Hoàng P, Đỗ Phạm Quốc C, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |
Bản án số 56/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 56/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thành N; Dương Hoàng P; Đỗ Phạm Quốc C - Cướp giật tài sản
