Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HSST

Ngày: 09/12/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nhật Hoàng Phương và ông Lê Phú Hào

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐST - HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà ngày 24 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 01/1/1969; Nơi ĐKTT và chổ ở: 13/01 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk; Thẻ CCCD: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Đồng H1 (chết); Mẹ: Trần Thị Y (chết); Chồng: Nguyễn Văn T (chết); có 04 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/11/2017, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 01/5/2019. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

Trần Thị C, sinh năm 1942; Địa chỉ: Thôn L, xã S, tình Đ. Vắng mặt. (Yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Ư, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn L, xã S, tình Đ. Vắng mặt. (Yêu cầu xét xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Kim H2, sinh năm 1976; Địa chỉ: khu phố L, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
  3. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1970; Địa chỉ: 7 P, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/6/2025, Nguyễn Thị Thanh H đang chăm sóc bệnh cho con tại tầng 06, bệnh viện Đ1. Khoảng 14 giờ 20 phút, cùng ngày, H đi thang máy từ tầng 06 xuống tầng 01 của bệnh viện để mua đồ. Khi vào thang máy, H đứng sau bà Trần Thị C, phát hiện trong túi áo khoác bên trái của bà C có 01 xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng được gấp làm đôi, cột bằng dây thun, H nảy sinh ý định lấy tiền của bà C. Quan sát thấy bà C không để ý, H dùng tay phải lấy xấp tiền trong túi áo khoác bà C, cầm chặt trên tay, nép vào góc thang máy cất giấu. Thang máy xuống tầng 01, H chờ bà C và mọi người ra khỏi thang máy trước rồi H đi ra sau. H đi đến khu vực cửa chính của khoa cấp cứu, tháo dây thun cột xấp tiền vừa lấy được, đếm tổng cộng 08 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 05 tờ vé số do Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đ phát hành ngày 17/6/2025. Qua rà soát camera an ninh bệnh viện, nhân viên bảo vệ bệnh viện mời H làm việc, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bà C. Tại cơ quan Công an, H đã giao nộp số tiền 4.000.000 đồng và 05 tờ vé số trả lại cho bà C.

Cáo trạng số 07/CT - VKSKV11 ngày 31/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội Trộm cắp tài sản; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại đủ tài sản không có ý kiến hay yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.

- Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H trình bày diễn biến hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; nhận thức hành vi trộm cắp tài sản người khác là trái pháp luật, nhưng do không có tiền đóng viện phí cho con nên khi thấy trong túi áo khoác của bị hại Trần Thị C có 01 xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng, mới nảy sinh ý định lấy trộm. Sau khi bị phát hiện, bị cáo H đã nộp lại toàn bộ tài sản lấy trộm. Do đó, bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sữa chữa và nuôi con bị bệnh nặng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.
  2. Tại phiên toà, vắng mặt bị hại và người làm chứng mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
  3. Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 17/6/2025, tại bệnh viện Đ1 thuộc phường T, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thị Thanh H đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 4.000.000 đồng và 05 tờ vé số của bà Trần Thị C (loại vé 10.000 đồng), tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.050.000 đồng. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

  4. Về tính chất, mức độ phạm tội: bị cáo Nguyễn Thị Thanh H lợi dụng thời điểm đông người, bị hại sơ ý lén lút lấy trộm tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và được bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  7. Về đặc điểm nhân thân: vào năm 2017, bị cáo H từng bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản (đã xoá án tích). Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đang nuôi con bị bệnh được chính quyền địa phương xác nhận..
  8. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo H lớn tuổi, không có thu nhập ổn định lại đang nuôi con bị bệnh, nên khi thấy bị hại sơ ý trong quản lý tài sản, bị cáo mới thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chứ không có ý định từ trước; giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội không cao. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
  9. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
  10. Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

* Về trách nhiệm dân sự: không xem xét, giải quyết.

* Về án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 11 - Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (Phòng PC 02 và PV 06);
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HSST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 56/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh Hồng về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger