Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày 30 tháng 5 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hân.

Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Võ Luyện, bà Vũ Thị Nga, bà Nguyễn Thị Thêu.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quang K, sinh ngày: 01/10/1960, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Trần Thị M (đều đã chết); vợ là bà Trần Thị T (bị hại trong vụ án - đã chết) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/9/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; trích xuất có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang K: Luật sư Phạm Xuân T1 - Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; địa chỉ văn phòng: Số C, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Tại Quyết định số 31/2025/QĐ-VPLS ngày 20/5/2025, Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và Cộng sự đã phân công luật sư Phạm Hữu G tham gia tố tụng tại phiên toà để bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Quang K; có mặt.

- Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1965 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Chị Trần Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; có mặt.
  • + Anh Trần Minh K1, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Trần Đình C1, sinh năm 1968;
  • + Ông Trần Ngọc N, sinh năm 1955;
  • + Ông Trần Kế T2, sinh năm 1965;
  • + Ông Trần Văn R, sinh năm 1960;
  • Đều cư trú: thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
  • + Bà Trần Thị M1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Những người làm chứng đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Quang K và bà Trần Thị T là vợ chồng. Từ năm 2021 bà T lên Hà Nội làm giúp việc đến ngày 16/5/2024 bà T không làm giúp việc nữa mà về sinh sống cùng bị cáo K tại thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Khoảng 19 giờ ngày 24/5/2024, bị cáo K và bà T ăn cơm tối và xem ti vi ở bên nhà anh Trần Văn K2 (con trai của bị cáo K và bà T) liền kề (do vợ chồng anh K2 lên Hà Nội làm ăn, bị cáo K ở nhà trông coi giúp) đến 22 giờ cùng ngày bị cáo K và bà T về nhà đi ngủ, trước khi đi ngủ vợ chồng bị cáo K có quan hệ tình dục. Khoảng 03 giờ 30 phút sáng ngày 25/5/2024, bà T dậy đi vệ sinh xong thì về ngồi ở mép giường ngủ, mặt quay ra hướng cửa chính, chân thả xuống đất, bà T cằn nhằn về việc K vay nợ nhiều, K giải thích về việc vay nợ để trả nợ cho anh K2 chứ không tiêu vào việc gì khác, sau đó hai bên lời qua tiếng lại, xưng hô mày tao với nhau. Khải bức xúc ngồi dậy trên giường vị trí phía sau bà T, dùng tay phải vòng ra phía trước tát vào má bên phải bà T và nói: “Không nói nữa đi ngủ đi”, bà T nói: “Tao không ngủ” và xuống giường đi đến kệ tivi sát giường ngủ lấy cốc thủy tinh đánh vào người K. Khải từ trên giường đi xuống đất đứng đối diện bà T, tay phải giơ lên tát 02 cái vào má trái bà T, tay trái túm tóc và dúi đầu bà T xuống. Bà T bỏ cốc xuống, tư thế khom người cúi xuống dùng hai tay nắm chặt dương vật K bóp mạnh. Hai bên đùn đẩy nhau đến vị trí bàn uống nước phía cửa ra vào, lúc này tay trái K vẫn túm tóc bà T, tay phải vơ lấy được khay đựng cốc chén bằng nhựa cứng màu nâu giả gỗ, hình hộp, kích thước khoảng (20 x30 x5)cm, trọng lượng khoảng 01 kg để ở mặt bàn uống nước. K dùng tay phải cầm cạnh của khay nhựa giơ lên đập liên tiếp nhiều nhát vào đầu bà T theo hướng từ trên xuống dưới, tay trái K vẫn túm tóc dúi đầu bà T xuống. Hai bên tiếp tục đẩy nhau từ đầu bàn uống nước đến khu vực gần cửa ra vào. Sau đó K bỏ khay xuống, dùng tay gạt tay bà T ra khỏi dương vật của mình nhưng không được, K dùng chân phải lên gối vùng ngực hất bà T ra khỏi người Khải, bà T ngã gục xuống nền nhà gần vị trí bức tường phía cửa ra vào, đầu quay hướng nhà anh K2, chân quay về hướng kệ ti vi kê trong phòng. K lên giường nằm và chửi bà T mấy câu nhưng không thấy bà T nói gì. Khoảng 10-15 phút sau, K đi đến bên cạnh dùng chân đá nhẹ vào người bà T và nói lên giường đi ngủ nhưng không thấy bà phản ứng. Khải lay người, lật ngửa và kiểm tra không thấy bà T cử động nên xác định bà đã chết, K dùng hai tay kéo bà T đến vị trí cách giường 1-2m. Cùng lúc này, K nhớ trước đó gia đình có can xăng đựng trong can 05 lít mua về để đổ vào xe máy dùng để kéo xe lôi chở đồ và thỉnh thoảng gia đình vẫn vệ sinh đồ dùng trong nhà, can xăng để cạnh bên phải dưới khu vực bàn thờ của gia đình, mục đích lấy xăng dùng bật lửa đốt để chết cùng bà T. K đi đến lấy can xăng, dùng tay phải mở lắp can xăng và cầm can xăng, tay trái cầm chiếc bật lửa ga ở vị trí đầu bàn uống nước rồi đi đến cạnh thi thể bà T, đổ xăng xuống nền nhà. Khải di chuyển đến vị trí giữa giường ngủ và bà T, K nghiêng người bên trái ôm bà T, tay phải K ôm bà T, chân phải gác lên người bà T và dùng tay phải để bật lửa. Sau khi bật lửa, do lửa bùng lên nhanh, K bị bỏng rát phần tay phải và chân bên phải. Do bị ngạt khói, không thở được nên K mở cửa chạy ra ngoài sân và nằm gục tại sân trước cửa nhà trong tình trạng cổ họng bỏng rát, khản cổ và không kêu cứu được. Đến khoảng 5 giờ cùng ngày, ông Trần Đình C1, sinh năm 1968, Trần Ngọc N, sinh năm 1955, ông Trần Kế T2, sinh năm 1965, ông Trần Văn R, sinh năm 1960 đều trú tại thôn B, xã V, huyện V và dập tắt đám cháy trong nhà. Sau khi dập tắt lửa thì phát hiện thi thể của bà T nằm trên nền nhà, vùng đầu có máu chảy ra nên trình báo cơ quan Công an.

Bị cáo K được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T và Viện Bỏng Quốc gia H1, đến chiều ngày 26/5/2024 bị cáo K được chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh rồi chuyển về Bệnh viện đa khoa huyện V điều trị.

- Vật chứng thu giữ gồm: 01 quần đùi vải đen, áo vải màu trắng có cổ gói, 01 áo vải màu trắng không cổ, 02 mảnh và sản phẩm cháy (thu tại hiện trường), 01 quần vải nam, 01 áo sơ mi dài tay kẻ sọc màu tối size L của bị cáo K.

- Kết quả khám nghiệm tại hiện trường: Hiện trường đã bị xáo trộn từng phần do quá trình chữa cháy.

Hiện trường: Nhà chính xây gạch đổ mái bằng 1 tầng quay hướng Bắc tiếp giáp với ao, đê sông H; phía Nam tiếp giáp với vườn, tiếp là nhà ở của ông T3 và khu dân cư; phía Đông tiếp giáp với nhà ông N và khu dân cư; phía Tây tiếp giáp với nhà anh Trần Minh K1 (con trai bà T- K). Phía trước nhà chính có sân gạch được lát nền màu đỏ, kích thước (6 x 13,6)m, phía trên có mái tôn trung bình 3,7m.

Nhà chính có 01 cửa ra vào tại mặt phía Bắc gồm hai cánh cửa gỗ, kính mở ra ngoài, kích thước 1,2 x 2,0m. Hiện tại hai cánh cửa kính ở trạng thái mở ép sát vào mặt tường ngoài phía Bắc, sát cạnh ngoài, cách cạnh dưới 0,96m, trên hai cánh cửa có khuy cài then cửa, không có then cài, các khuy cài ở trạng thái bình thường. Cánh cửa phía Đông: 2/3 mặt trong phía trên có dấu vết tác động nhiệt, ám muội đen đậm hướng từ trong ra ngoài, đậm phía trên và giảm dần xuống dưới vết đo (1,6 x0,6)m, vị trí thấp nhất của vết cách cạnh dưới 0,5 mm,cạnh ngoài mặt trong của cánh cửa vị trí cách cạnh dưới 0,7m có dấu vết trượt mất muội đen, vết đo (0,62 x 0,6)m, mặt trong phía dưới của cánh cửa có bám dính máu dạng bắn hướng từ trong ra ngoài, từ Đông sang T (khi cánh cửa ở trạng thái đóng) vết đo (0,74 x 0,52)m. Tại các vị trí khác của 02 cánh cửa, rèm cửa, mặt dưới phía trong của mái tôn, tường cửa phía Bắc và phía Nam có vết ám muội đen đậm, lùa nhiệt hưởng từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên.

Bên trong nhà chính kích thước (4x4x3,7)m nền lát gạch men màu trắng hoa văn màu vàng: Hiện tại có nhiều sản phẩm cháy của các tấm nhựa, gỗ và các vật dụng khác. Trên nền nhà phát hiện 01 tử thi xác định là bà Trần Thị T trong tư thế nằm ngửa, hai chân hai tay co, đầu quay hướng Tây, chân quay hướng Đ, đầu cách tường phía Bắc 1,65m (Bút lục số 89-109);

- Kết luận giám định số 3967B ngày 04/6/2024 của V Bộ C2 đối với mẫu phủ tạng, chất chứa dạ dày và mẫu máu của bà Trần Thị T, kết luận:

  • “+ Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Trần Thị T gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn) và các chất ma tuý;
  • + Nồng độ carboxyhemoglobin (COHb) trong mẫu máu ghi thu của tử thi Trần Thị T gửi giám định là 15% (CO khi vào máu tác dụng với hemoglobin trong hồng cầy tạo tahfnh COHb). Theo tài liệu nồng độ COHb từ 10-20% gây nhức đầu, 20-30% gây độc, >45% có thể gây tử vong;
  • + Trong mẫu máu, mẫu phủ tạng và chất chứa dạ dày ghi thu của tử thi Trần Thị T gửi giám định đều không tìm thấy các chất độc thường gặp: xyanua; mthoanol; thuốc diệt chuột (nhóm chống đông máu, các muối phốt phua, fluoroacetat, tetramine); hoá chất bảo vệ thực vật (phospho hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat, pyrethroid, sulfonyl urea, acetamid, triazin, paraquat, diquat, glyphosate, glufosinate, nereistoxin); alkaloid độc của lá ngón, mã tiền, cà độc dược, ô đầu – phụ tử; các chất an thần gây ngủ và kim loại nặng độc”.

- Kết luận giám định số 3967A ngày 25/6/2024 của V Bộ C2 kết luận giám định mô bệnh học: Hình ảnh kém tưới máu các tạng, phù phế nang rải rác; não phù, sung huyết/ tế bào gan thoái hoá mỡ lan toả (Bút lục số 168-169).

- Kết luận giám định tử thi số 709 ngày 22/7/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T đối với tử thi Trần Thị T, kết luận:

  • + Khám ngoài: trên toàn bộ tử thi có nhiều vết cháy bỏng da than hóa mất một phần tổ chức da cơ, vùng đầu có nhiều vết trợt da, rách toác da, lóc da, sưng nề, tụ máu;
  • + Khám trong: nứt xướng sọ vùng trán phải, trán trái, trong lòng khí phế quản có út dị vật màu đen;

Kết luận: Nạn nhân Trần Thị T chết trong đám cháy trên người bị đa vết thương vùng đầu (Bút lục số 180-182);

- Kết luận giám định số 3941 ngày 03/6/2024 của V Bộ C2, kết luận:

  • “+ Trong mẫu ghi dịch âm đạo thu của nạn nhân Trần Thị T có tinh trùng người và là tinh trùng của Trần Quang K;
  • + Trên mẫu móng tay ghi thu của Trần Quang K không có ADN của nạn nhân Trần Thị T;
  • + Các mẫu ghi máu thu tại vị trí số 01, vị trí số 02 trên hiện trường đều là máu người và là máu của nạn nhân Trần Thị T;
  • + Trên hai mảnh vải gửi giám định đều có bám dính máu người. Trong đó: Mảnh vải ghi được cắt ra từ chiếc áp phông cổ tròn, màu trắng của Trần Quang K có bám dính máu của Trần Quang K và nạn nhân Trần Thị T;
  • Mảnh vải ghi được cắt ra từ chiếc áo phông có cổ của Trần Quang K có bám dính máu của Trần Quang K, không bám dính máu của nạn nhân Trần Thị T” (Bút lục số 158-159);

- Kết luận giám định số 3939 ngày 28/5/2024 của V Bộ C2 kết luận:

  • “+ 01 quần vải nam, 01 áo vải màu trắng có cổ gói, 01 áo vải màu trắng không cổ và sản phẩm cháy ghi thu tại giường phía Đông Nam (vị trí số 5 trên hiện trường) gửi giám định đều không tìm thấy xăng, dầu;
  • + Sản phẩm cháy ghi thu gần vị trí số 1 gửi giám định có tìm thấy thành phần của xăng” (Bút lục số 177);

- Công văn số 48/CV-KTHS ngày 14/02/2025 của Phòng K4 Công an tỉnh T trả lời Công văn số 54A/CSDDT ngày 16/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xác định: Nạn nhân chết trong đám cháy bao gồm hai cơ chế: suy hô hấp do hít phải sản phẩm cháy và bỏng hô hấp; suy tuần hoàn do sốc bỏng nhiệt (Bút lục số 182a).

- Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại là các con của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng của bị hại.

Bản Cáo trạng số 37/CT-VSKTB ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trần Quang K về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Quang K phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo K 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị T là chị Trần Thị H và anh Trần Minh K1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, do đó không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng 6 điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 quần đùi vải đen, áo vải màu trắng có cổ gói, 01 áo vải màu trắng không cổ, 02 mảnh và sản phẩm cháy (thu tại hiện trường), 01 quần vải nam, 01 áo sơ mi dài tay kẻ sọc màu tối size L của bị cáo K, không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang K trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thái Bình về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm mức hình phạt cho để bị cáo cải tạo, giáo dục sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không trình bày bào lời chữa bổ sung và không trình bày ý kiến tranh luận bổ sung.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Trần Thị H và anh Trần Minh K1 không trình bày tranh luận về tội danh và hình phạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về dân sự, do đó, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang K khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng mô tả. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình, khoảng 03 giờ 30 phút đến 4 giờ ngày 25/5/2024 tại nhà của gia đình ở thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, Trần Quang K đã dùng tay phải cầm cạnh của khay bằng nhựa cứng màu nâu giả gỗ, trọng lượng khoảng 01 kg đập liên tiếp nhiều nhát theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng đầu bà Trần Thị T, bà Thiết bị nứt xương sọ vùng trán trái, trán phải và nằm bất tỉnh tại nền nhà. Sau đó K dùng can xăng loại 05 lít có sẵn ở trong nhà, đổ ra nền nhà và dùng tay phải bật lửa ga để đốt, mục đích chết cùng bà T. Hậu quả, bà Trần Thị Thiết B chết trong đám cháy, trên người bị đa chấn thương vùng đầu, nguyên nhân chết do suy hô hấp do hít phải sản phẩm cháy và bỏng hô hấp, suy tuần hoàn do sốc bỏng nhiệt còn bị cáo K bị bỏng và được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Bị K có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, bị cáo biết rõ việc sử dụng khay nhựa cứng, có cạnh, kích thước khoảng (20 x30 x5)cm, trọng lượng khoảng 01 kg đánh vào đầu bị hại và việc đổ xăng đốt bị hại là sẽ tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng bị cáo vô cớ thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn K3 đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Điều 123 Bộ luật hình sự quy định về tội “Giết người” như sau: “1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) ...; n) Có tính chất côn đồ; ...”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Quang K về tội danh của Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang K thì thấy là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây đau thương không gì bù đắp được cho gia đình bị hại, gây hoang mang trong nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng dư luận xấu tại địa phương, vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thời điểm phạm tội bị cáo 65 tuổi, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là phạt tù buộc bị cáo cách ly ra khỏi xã hội không thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tính mạng của bị hại nên không đặt ra để giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 quần đùi vải đen, áo vải màu trắng có cổ gói, 01 áo vải màu trắng không cổ, 02 mảnh và sản phẩm cháy (thu tại hiện trường), 01 quần vải nam, 01 áo sơ mi dài tay kẻ sọc màu tối size L của bị cáo K, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

[10] Xét Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo K là chưa tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nên không chấp nhận.

[11] Xét ý kiến của người bào chữa chỉ định cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo, tuyên phạt bị cáo tù có thời hạn thì thấy không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang K phạm tội “Giết người”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quang K tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 06/9/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết trong vụ án này.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 quần đùi vải đen, áo vải màu trắng có cổ gói, 01 áo vải màu trắng không cổ, 02 mảnh và sản phẩm cháy (thu tại hiện trường), 01 quần vải nam, 01 áo sơ mi dài tay kẻ sọc màu tối size L của bị cáo Trần Quang K. (Vật chứng có đặc điểm như ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình).

5. Về án phí: Bị cáo Trần Quang K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật 9 thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 30/5/2025./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, HCТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội giết người

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang K - Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger