Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày: 30 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nhật Duật
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh; Ông Đỗ Xuân Hoài
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 14/5/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Văn H, sinh ngày 02/3/1993, tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Phạm Thị T; có vợ là Lê Thị T1; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 17/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Q (tên phiên âm tiếng Việt Nam: Tiền H), sinh ngày 24/9/1971, tại Q, Trung Quốc; nơi cư trú: Số A, đường G, khu P, thành phố P, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9; dân tộc: Hán; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Qian Zhi L và bà Liang Jiao M; có vợ là Chen Xiao J; có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 17/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 03/11/2001, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Vũ Thị M1; có vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 17/11/2024, đến ngày 26/11/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Bà Phạm Thị Thùy N, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A khu D phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; trình độ: Đại học ngoại ngữ Tiếng Trung Quốc; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Đăng T2, sinh năm 1975, nơi cư trú: số A đường H, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 16/11/2024, tại khu vực bờ biển C thuộc khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Đồn Biên phòng T4 tuần tra, phát hiện Nguyễn Ngọc Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 36K-8336 chở Tang J1 (phiên âm tiếng Việt: Đường K) có hành vi xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc; tiếp tục kiểm tra khu vực bờ biển C, Bộ đội biên phòng phát hiện 01 bè gỗ chở 04 nam giới người Trung Quốc là Qian Hong Y (tên phiên âm tiếng Việt Nam: Tiền H), He D (phiên âm tiếng Việt là: H), Chen Jin H1 (phiên âm tiếng Việt là: Trần Cẩm H2), Chen Guo Y1 (phiên âm tiếng Việt là: Trần Quốc Đ1) đều không có giấy tờ thủ tục xuất, nhập cảnh vào Việt Nam nên đã đưa tất cả về trụ sở Đồn Biên phòng T4 để làm rõ sự việc.

Quá trình điều tra đã xác định:

Khi làm công việc trông thuê xuồng tại khu vực bãi biển T từ tháng 8/2024, Trần Văn H có quen 01 người đàn ông Trung Quốc tên là A C1 (H không rõ lai lịch, địa chỉ). Ngày 13/11/2024, A C1 liên hệ với H qua ứng dụng Zalo, thuê H chở 02 khách Trung Quốc từ trung tâm thành phố M đến khu vực mũi S để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, với giá 4.000 NDT (nhân dân tệ), Hòa đồng ý. Do không nắm rõ địa hình, đường đi tại M nên H đã liên lạc với Nguyễn Ngọc Đ thuê Đ thực hiện việc trên với giá 2.000 NDT, Đ đồng ý.

Ngày 16/11/2024, H nhận được thông tin của A C1 về việc đã bố trí được phương tiện đón khách Trung Quốc và bảo H đến nhà số A, đường H, phường T, thành phố M (chủ nhà là Lê Đăng T2) để đón 02 người đàn ông Trung Quốc đưa xuống mũi Sa Vĩ, đồng thời gửi cho H tài khoản zalo “Thật” (Phạm Duy T3, sinh năm 1985, trú tại xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng) để liên hệ đón người, đưa xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. H liên lạc bảo Đ thực hiện và chuyển tiếp tài khoản Zalo “Thật” cho Đ để liên hệ giao khách.

Nhận được thông tin từ H, Đ điều khiển xe mô tô BKS 36K-8336 đến nhà anh T2 đón được 02 khách đưa ra mũi Sa Vĩ và liên hệ với T3 nhưng T3 không đón mà lại chuyển tiếp số điện thoại liên hệ cho Mạc Văn S (sinh năm 1992, trú tại B, thành phố M), S cũng không đón khách. Đ gọi cho H báo chưa giao được khách, H gọi lại cho A C1. A C1 thông báo do nước cạn, phương tiện không vào đón khách được và yêu cầu H chở khách ra bờ biển khu bãi Cồn M. H thông báo lại cho Đ. Do đường khó đi, Đoàn chỉ chở 01 khách là Trần Quốc Đ1 đến điểm hẹn trước, rồi quay lại đón Đường K. Trên đường Đ chở Đường K đến khu vực bờ biển C thuộc khu T, phường T, M thì bị Bộ đội biên phòng bắt giữ.

Quá trình điều tra, Trần Văn H, Nguyễn Ngọc Đ đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Về việc sang Việt Nam đón 02 khách về Trung Quốc, Tiền H khai: Diệu thường xuyên đi câu cá ở khu vực biển Phòng Thành cảng, Q, Trung Quốc. Ngày 14/11/2024, D1 gặp 1 người bạn Trung Quốc tên là Hứa Lão N1, N1 đặt vấn đề thuê D1 đón 02 người Trung Quốc (không có giấy tờ xuất nhập cảnh) từ khu vực T, Việt Nam đưa về Trung Quốc với giá 2.500 NDT/01 khách, D1 đồng ý. Ngày 16/11/2024, D1 rủ bạn là Hê Đ2 và Trần Cẩm H2 đi câu cá tại khu vực cảng T, Trung Quốc. Khi đến khu vực biển tiếp giáp Trung Quốc - Việt Nam, D1 gọi điện cho Hứa Lão N1 biết D1 đang gần bờ biển Việt Nam, nếu N1 có nhu cầu đón người thì báo lại cho D1. Sau đó có 01 người liên lạc với D1, giới thiệu tên là A L1, bảo Diệu đến khu vực nhận hàng trên biển. Theo hướng dẫn của A L1, D1 cho thuyền đến khu vực trên cập vào xuồng của A L1, nói là lấy nước làm mát. Tại đây, A L1 đưa cho D1 5000 NDT và bảo D1 cho xuồng đến khu B gần đó để nhận 02 người Trung Quốc xuất cảnh trái phép từ Việt Nam, đưa về Trung Quốc (việc trao đổi giữa D1 và A L1 thì Hê Đ2 và Trần Cẩm H2 không biết, D1 cũng không nói cho họ biết). D1 chỉ nói với Đ2 và H2 đi đón 2 người bạn. Khi gần đến vùng biển T, Việt Nam, do nước cạn nên bè không chạy máy được, Đ2 và H2 cùng nhau dùng cây sào đẩy bè vào khu vực bờ biển Cồn Mang. Sau đó D1 đón được 01 người khách (là Trần Quốc Đ1) lên bè. Khi đang chờ đón người Trung Quốc còn lại thì bị Đồn Biên phòng T4 kiểm tra, phát hiện bắt giữ.

Đường K và Trần Quốc Đ1 khai: Cả hai ở thành phố Hồ Chí Minh, muốn về Trung Quốc nhưng không có giấy tờ nên đã liên hệ với người bên Trung Quốc tìm cách xuất cảnh trái phép về Trung Quốc và được hướng dẫn đi xe khách đến nhà anh T2 ở M; sau đó được 01 thanh niên (sau biết là Nguyễn Ngọc Đ) đón để xuất cảnh trái phép về Trung Quốc, nhưng chưa kịp xuất cảnh thì bị Bộ bắt giữ.

Hê Đ2 và Trần Cẩm H2 khai: D1 rủ Đ2 và H2 đi câu cá tại khu vực cảng T, Trung Quốc, do không có bè lên Đ2 đã mượn người quen 01 chiếc bè gỗ, trên đường đi đã đến 01 chiếc xuống để lấy nước làm mát, sau đó D1 bảo Đ2 và H2 đi đón bạn của D1. Khi đang cập bến đón người thì bị Đ3 Biên phòng bắt giữ. Đ2 và H2 không biết khu vực đón người là vùng biển của nước Việt Nam.

Người làm chứng Lê Đăng T2 khai: ngày 15/11/2024, có bạn là “A Ủ” người Trung Quốc, điện thoại nhờ cho 02 người bạn của “A Ủ” ở nhờ nhà T2, đến ngày 16/11/2024, Đ đến đón 02 người Trung Quốc đi, T2 không biết họ đi đâu và làm gì.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q đã làm thủ tục đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam gửi Công hàm kèm theo Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Công hòa nhân dân T5 đề nghị tương trợ xác minh, lập lý lịch tư pháp đối với Tiền Hồng D1, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Tại Bản cáo trạng số: 3529/CT-VKSQN-P1 ngày 24/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Trần Văn H, Qian Hong Y (Tiền H), Nguyễn Ngọc Đ về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” là đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật khách quan.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Qian Hong Y (Tiền H), Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”; áp dụng khoản 1 Điều 348; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm Điều 37 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Qian Hong Y); xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/11/2024; xử phạt bị cáo Qian Hong Y từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 17/11/2024, trục xuất bị cáo Qian Hong Y rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 17/11/2024 đến ngày 26/11/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 5.000 Nhân dân tệ (CNY); trả lại cho bị cáo Qian Hong Y (Tiền H) số tiền 500 Nhân dân tệ (CNY) và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Văn H, Qian Hong Y, Nguyễn Ngọc Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, Biên bản kiểm tra hành chính và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 16/11/2024, tại khu vực bờ biển C thuộc khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, vì vụ lợi, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Ngọc Đ và Q đã có hành vi tổ chức cho Trần Quốc Đ1 và Đường K xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc để lấy tiền công. Q đã được nhận số tiền 5.000 Nhân dân tệ (tương đương 17.553.000 đồng). Khi Nguyễn Ngọc Đ đang đưa Đường K theo chỉ đạo của Trần Văn H và Q đang chờ đón Đường K để xuất cảnh trái phép thì bị Tổ tuần tra của Đồn Biên phòng T4 thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Q phát hiện, bắt giữ.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được hậu quả của tội phạm nhưng vì hám lời nên các bị cáo đã bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo Trần Văn H, Qian Hong Y và Nguyễn Ngọc Đ đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Văn H trực tiếp thỏa thuận với đối tượng A C1 người Trung Quốc (không rõ lai lịch, địa chỉ), tích cực tổ chức thực hiện hành vi đưa người Trung Quốc xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc và liên hệ, thuê bị cáo Nguyễn Ngọc Đ cùng thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò đầu. Bị cáo Qian Hong Y được đối tượng Hứa Lão N1 người Trung Quốc đặt vấn đề đón người Trung Quốc từ Việt Nam về Trung Quốc và tích cực thực hiện nên giữ vai trò thứ hai. Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ tham gia với vai trò thực hành, giúp sức cho bị cáo Trần Văn H nên giữ vai trò sau cùng.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ rõ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội lần đầu, với vai trò giúp sức không đáng kể nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo; đảm bảo chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy trước khi phạm tội, các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Qian Hong Y là người nước ngoài phạm tội nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, đồ vật và số tiền thu giữ:

Đối với vật chứng thu giữ trong vụ án là phương tiện dùng vào việc các bị cáo liên lạc cho việc đưa đón người xuất cảnh trái phép nên tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước, bao gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Ngọc Đ); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám bạc, đã qua sử dụng (thu của Qian H); 02 sim điện thoại di động gắn trong các điện thoại bị tịch thu sung quỹ Nhà nước này không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen cũ, đã qua sử dụng, gắn biển số 36K6-8336, xe không có gương, vành han rỉ, yếm và mặt trước bị vỡ, có số máy HC12E-0676768, số khung RLHHC12259Y061602 (theo kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 12/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q) thu của Nguyễn Ngọc Đ, là phương tiện dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên, chưa xác minh được chủ sở hữu nên giao cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng (thu của Q) không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 (một) túi đựng đồ đã cũ; 10 (mười) chiếc cần câu đã cũ (04 chiếc có thể kéo dài hoặc thu gọn; 06 chiếc lắp ghép để sử dụng); 01 (một) hộp nhựa đã cũ, bên trong có 35 viên kim loại dạng bầu dục; 01 (một) hộp đựng giếng câu đã cũ; 01 (một) cuộn dây cước màu đỏ đã cũ thu của Q là đồ vật cá nhân của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không đề nghị được trả lại số đồ vật trên và xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Văn H là giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 5500 Nhân dân tệ (CNY) thu của bị cáo Qian Hong Y (tỷ giá ngày 16/11/2024 thì 1 nhân dân tệ = 3.510,60 Việt Nam đồng), trong đó: 5000 NDT (tương ứng: 17.533.000đ) là tiền công A L1 trả cho Q để đưa Trần Quốc Đ1 và Đường K xuất cảnh trái phép từ Việt Nam về Trung Quốc là tiền thu lời bất chính từ việc phạm tội mà có nên tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước; 500 Nhân dân tệ (tương ứng là 1.753.300 đồng) là tiền cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án: đối với Phạm Duy T3, Mạc Văn S được “A Lục” nhờ đón người (theo lời khai của anh T3), nhưng anh T3 và anh S đều không biết là đón người xuất cảnh trái phép và cũng không tham gia thực hiện nên không đề cập xử lý.

Đối với đối tượng “A Cẩu”, “A Ủ”, “A L2” và “A L1” đều không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Đối với Lê Đăng T2 có hành vi cho 02 người Trung Quốc ở tại nhà, nhưng không biết họ xuất cảnh trái phép và không tham gia thực hiện, nên không đề cập xử lý.

Đối với Tang J1 (Đường K) Chen Guo Y1 (Trần Quốc Đ1), H (H) và Chen Jin H1 (Trần Cẩm H2), đều là người Trung Quốc có hành vi xuất, nhập cảnh trái phép nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này nên không xử lý hình sự, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q đã bàn giao cho Đồn Biên phòng T4 để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Trần Văn H, Qian Hong Y và Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H: 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ: 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ 17/11/2024 đến 26/11/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 37 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Qian Hong Y: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2024. Trục xuất bị cáo Qian Hong Y rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, nếu bị cáo không liên quan đến vi phạm pháp luật khác.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Ngọc Đ); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám bạc, đã qua sử dụng (thu của Qian H).

Giao cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q giải quyết theo thẩm quyền đối với: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen cũ, đã qua sử dụng, gắn biển số 36K6-8336, xe không có gương, vành han rỉ, yếm và mặt trước bị vỡ, có số máy HC12E-0676768, số khung RLHHC12259Y061602 (theo kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 12/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q) thu của Nguyễn Ngọc Đ.

Trả lại cho bị cáo Qian Hong Y: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng + 01 sim.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn H: 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Văn H.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi đựng đồ đã cũ; 10 (mười) chiếc cần câu đã cũ (04 chiếc có thể kéo dài hoặc thu gọn; 06 chiếc lắp ghép để sử dụng); 01 (một) hộp nhựa đã cũ, bên trong có 35 viên kim loại dạng bầu dục; 01 (một) hộp đựng giếng câu đã cũ; 01 (một) cuộn dây cước màu đỏ đã cũ và 02 sim điện thoại di động gắn trong các điện thoại di động bị tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.

Tình trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 90 ngày 26/4/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.000 Nhân dân tệ (CNY); trả lại cho Q số tiền 500 Nhân dân tệ (CNY).

Theo biên bản giao nhận tài sản số 216/2025/BBBG-KBNN QN và Phiếu nhập kho ngày 14/01/2025 của Kho bạc Nhà nước Q1.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo Trần Văn H, Qian Hong Y và Nguyễn Ngọc Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh QN;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh QN;
  • - Cục THADS tỉnh QN;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nhật Duật

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Sinh

Nguyễn Nhật Duật

Đỗ Xuân Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 16/11/2024, tại khu vực bờ biển C thuộc khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, vì vụ lợi, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Ngọc Đ và Q đã có hành vi tổ chức cho Trần Quốc Đ1 và Đường K xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc để lấy tiền công. Q đã được nhận số tiền 5.000 Nhân dân tệ (tương đương 17.553.000 đồng). Khi Nguyễn Ngọc Đ đang đưa Đường K theo chỉ đạo của Trần Văn H và Q đang chờ đón Đường K để xuất cảnh trái phép thì bị Tổ tuần tra của Đồn Biên phòng T4 thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Q phát hiện, bắt giữ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger