|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2025/HS-ST Ngày 26-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn La
2. Ông Đoàn Văn Cương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/6/2025 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54A/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ninh Văn T, sinh năm 1986; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ninh Văn B, sinh năm 1952 và bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Nhân thân:
- Quyết định số 1990/QĐ-CT ngày 02/12/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng.
- Bản án số 33/2008/HS-ST ngày 21/5/2008 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Huỷ hoại tài sản, cho hưởng án treo.
- Tiền án: Bản án số 78/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Ninh Văn T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/3/2024.
Bị cáo đầu thú. Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L, Công an tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Ninh Văn K, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ninh Văn T, sinh năm 1986, trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã bị Toà án nhân dân xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích.
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 20/4/2025, T đi xe đạp mini nhãn hiệu Thống Nhất của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959 ở cùng thôn đi từ nhà dọc theo khu vực cánh đồng cạnh đường liên xã Đ - xã A, huyện L để soi cua. Đến khoảng 01 giờ ngày 21/4/2025, khi soi cua đến cánh đồng thuộc thôn T, xã Đ, huyện L, T thấy tại ruộng trồng bí của gia đình bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964, trú tại: Thôn P, xã A, huyện L có dựng hàng rào bằng lưới sắt B40 xung quanh để bảo vệ. T quan sát thấy xung quanh không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. T đi xe đạp về nhà lấy 01 chiếc kìm bằng kim loại màu đen, phần tay kìm bọc nhựa màu đỏ đen, trên tay cầm có dòng chữ MEINFA dài 15,5cm rồi quay lại để cắt lưới B40 quây ruộng. T dùng chiếc kìm cắt một đoạn lưới sắt dài 10,6m; nặng 25,5kg rồi cuộn tròn lại mang lên xe đạp chở về đoạn cầu đá thuộc địa phận thôn N, xã Đ ở phía rìa đường và đậy cây khô lên để hôm sau quay lại lấy. Sau đó, T đi xe đạp về nhà ngủ.
Đến khoảng hơn 13 giờ 50 phút, cùng ngày 21/4/2025, T mượn xe mô tô biển kiểm soát 98F9-0253 của anh trai là Ninh Văn K - sinh năm 1981 ở cùng thôn đi ra chỗ cất giấu lưới sắt B40. Khi T vác lưới B40 đặt lên yên xe máy để mang đi tìm chỗ bán thì Công an xã Đ phát hiện và đưa T cùng tang vật về Công an xã Đ để làm việc.
Ngày 21/4/2025, Công an xã Đ tiếp nhận đơn trình báo của bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964 ở thôn T, xã Đ, huyện L về việc bà bị trộm lưới sắt B40 để quây ruộng.
Ngày 21/4/2025, Ninh Văn T đầu thú về hành vi trộm cắp của bản thân như đã nêu trên đồng thời tự nguyện giao nộp: 01 đoạn lưới sắt B40 màu xám nặng 25,5kg cao 1,3m, hình trụ tròn đường kính 40cm. 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F9-025, 01 xe đạp mini màu ghi nhãn hiệu Thống Nhất. 01 chiếc kìm bằng kim loại màu đen.
Cùng ngày, cơ quan điều tra đã cho bà T1 quan sát cuộn lưới sắt mà T giao nộp khi đầu thú, bà T1 xác nhận đây chính là lưới sắt của gia đình bà.
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Giá trị 01 đoạn lưới sắt B40, dài 10,6m; rộng 1,3m, màu xám, có tổng trọng lượng 25,5kg đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 21/4/2025 có giá là: 25,5kg x 7.000đồng/1kg = 178.500 đồng (Một trăm bẩy mươi tám nghìn năm trăm đồng). Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 178.500 đồng (Một trăm bẩy mươi tám nghìn năm trăm đồng)”.
Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 12 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Ninh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Qua thẩm vấn tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ninh Văn T từ 09 tháng tù đến 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 21/4/2025.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án là đảm bảo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Ninh Văn T một lần nữa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ninh Văn T đã bị Toà án nhân dân xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 21/4/2025, tại ruộng bí của gia đình bà Nguyễn Thị T1 thuộc cánh đồng thôn T, xã Đ, huyện L, Ninh Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 đoạn lưới sắt B40, dài 10,6m; rộng 1,3m, màu xám, có tổng trọng lượng 25,5kg đã qua sử dụng trị giá 178.500 đồng (Một trăm bẩy mươi tám nghìn năm trăm đồng) của bà Nguyễn Thị T1.
Hành vi nêu trên của Ninh Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân không tốt. Ngày 02/12/2004, bị cáo bị Chủ tịch UBND tỉnh B về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng. Ngày 21/5/2008, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Huỷ hoại tài sản, nhưng cho hưởng án treo.
Về tiền án: Ngày 24/8/2023, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/3/2024.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy, mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà T1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì nên Hội đồng xet xử không xem xét giải quyết.
[8] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với 01 đoạn lưới sắt B40 màu xám nặng 25,5kg cao 1,3m, hình trụ tròn đường kính 40cm. 01 xe mô tô BKS 98F9-0253, 01 xe đạp mini màu ghi nhãn hiệu Thống Nhất là tài sản của bà T1, anh K, bà V không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 27/4/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho anh K, bà T1 và bà V là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc kìm bằng kim loại màu đen, phần tay kìm bọc nhựa màu đỏ đen, trên tay cầm có dòng chữ “MEINFA”, dài 15,5cm là công cụ bị cáo dùng để phạm tội, có giá trị không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với việc anh K, bà V cho T mượn xe nhưng không biết việc T mượn xe để đi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra ma tuý đối với T cho kết quả dương tính. Bị cáo T khai nhận mua ma tuý của một người không quen biết, không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để truy tìm. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo T, Cơ quan điều tra đã lập biên bản chuyển tài liệu đến Công an thị trấn K để xử lý về hành vi này là đúng quy định của pháp luật.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ninh Văn T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 21/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:
01 chiếc kìm bằng kim loại màu đen, phần tay kìm bọc nhựa màu đỏ, trên tay cầm có dòng chữ “MEINFA”, dài 15,5cm, được niêm phong trong một phong bì có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH BẮC GIANG CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA” có chữ ký họ tên của Dương Minh H, Bùi Đức G, Ngô Văn T2, Ninh Văn T và dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2025 giữa CQ CSĐT Công an tỉnh B và Chi cục THADS huyện L).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Ninh Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung |
Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 56/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Ninh Văn Thắng phạm tội Trộm cắp tài sản
